Home / Kiến thức / Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa?

Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa?

HIV đến nay vẫn được coi là căn bệnh thế kỷ bởi không chỉ bởi chưa có thuốc đặc trị hay vắc xin phòng ngừa mà còn bởi khi virus HIV tấn công nó có thể phá huỷ tất cả hệ thống miễn dịch của cơ thể, khiến cho cơ thể chúng ta hoàn toàn mất sức đề kháng đối với mọi loại bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào. Người bị HIV chỉ ó cách chung sống với nó cả đời. HIV có cách lây truyền giống hệt viêm gan B, người bị viêm gan B mạn tính cũng phải chung với nó cả đời nhưng tại sao HIV bị coi là căn bệnh thế kỷ còn viêm gan B thì không? Bài viết này sẽ là câu trả lời cho thắc mắc đó của bạn.

HIV là gì?

HIV do Human Immuno deficience Virus thuộc họ Retroviridae gây ra. Khi tấn công vào cơ thể, HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch, làm suy giảm nặng tế bào TCD4 và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người. Nói đến HIV người ta thường kèm theo từ AIDS đó là bởi AIDS chính là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Ở giai đoạn này, mọi bệnh từ nhiễm trùng cơ hội, ung thư đến các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch đều thể hiện và sẽ dẫn đến tử vong. (1)

Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa? virus hiv

Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người. Có những người 15-20 năm chưa thấy  các triệu chứng AIDS và số lượng tế bào TCD4 không giảm nhưng cũng có những trường hợp quá trình này chỉ diễn ra trong vài tháng. Thời gian trung bình từ HIV chuyển thành AIDS là khoảng 10 năm.

Nguyên nhân và cách lây truyền HIV

HIV gây bệnh bằng cách gắn vào các tế bào T giúp đỡ CD4+ (còn gọi là limpho bào T4) – một loại bạch cầu tham gia quá trình đáp ứng miễn dịch chống lại nhiễm trùng và ung thư và hủy diệt chúng. Khi số lượng tế bào T CD4+ giảm, hệ thống miễn dịch bị suy yếu và sẽ dễ dàng mắc một số bệnh mà khi khoẻ mạnh cơ thể đủ sức chống lại. Ngoài ra HIV còn có thể xâm nhập vào nhiều loại tế bào khác như: Lympho bào B, đại thực bào, tế bào nguồn, tế bào hình sao, tế bào xơ non v.v… Các bệnh nhiễm trùng cơ hội này là nguyên nhân tử vong chính ở người mắc AIDS. HIV cũng nhiễm vào các tế bào não, gây một số rối loạn thần kinh.

Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa? cách lây nhiễm hiv

Virus HIV được lây truyền thông qua các dịch cơ thể, như máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo và sữa mẹ và vì thế các con đường lây nhiềm HIV chủ yếu là:

  • Quan hệ tình dục không an toàn: mặc dù việc sử dụng bao cao su không được cho là sẽ đảm bảo an toàn tuyệt đối nhưng bao cao su khi được thực hành đúng cách có thể làm tăng độ an toàn lên đến 90-95%. Những hành động bình thường như ôm ấp, vuốt ve, nắm tay hay các hành vi không xâm nhập sẽ hoàn toàn an toàn. Những hành vi có tính tiếp xúc với cơ quan sinh dục hoặc cơ thể của bạn tình như anal sex (tình dục qua hậu môn), vaginal sex (tình dục qua đường âm đạo), oral sex (tình dục qua đường miệng) hoặc quan hệ bằng tay (fingering, fisting) là những hành vi có nhuy cơ lây nhiễm HIV cao nếu không có các biện pháp hiệu quả và đúng đắn để bảo vệ. Tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục không an toàn là khoảng 0,3-0,5% và gia tăng theo tần suất quan hệ. Quan hệ tình dục theo nhóm (group sex) hay có nhiều bạn tình, quan hệ với những hành vi nguy hiểm như bạo dâm, quan hệ thô bạo, cưỡng hiếp… càng làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV nhanh chóng và cho nhiều người.
  • Truyền từ mẹ sang con: nếu người mẹ bị HIV thì có đến 35% sẽ lây bệnh sang cho con nếu không được điều trị dự phòng đúng cách. Theo đó, tỉ lệ lây nhiễm bằng cách này trong thời gian mang thai là 5-10%, qua sữa mẹ khi cho con bú là 10-15% và lúc chuyển dạ là cao nhất từ 15-20%. Nhưng nếu người mẹ phát hiện bệnh sớm và có các biện pháp bảo vệ con hợp lý thì tỉ lệ này giảm xuống chỉ còn 5% mà thôi.
  • Qua đường máu: hành vi dùng chung bơm kim tiêm, tiếp xúc với máu và chất thải của người nhiễm HIV hay truyền máu không an toàn là nguồn cơn của sự lây nhiễm HIV một cách nhanh chóng. Trước khi hiến máu hay nhận máu từ ai đó cần tiến hành các xét nghiệm và đảm bảo là an toàn rồi mới thực hiện các bước tiếp theo. Mặc dù tỉ lệ lây nhiễm HIV do truyền máu hiện nay đã cơ bản được khống chế nhưng vẫn không được chủ quan hay bỏ qua bất cứ bước nào. Ngoài ra bệnh cũng có thể lây nếu bị máu của người nhiễm HIV bắn vào mắt, dùng chung các dụng cụ như dao cạo râu, bàn chải đánh răng, các dụng cụ y tế không tiệt trùng hoặc bị tai nạn nghề nghiệp như kim đâm…

Một số hành vi nguy cơ gián tiếp có thể thúc đẩy hoặc là nguyên nhân dẫn đến các hành vi trực tiếp làm tăng khả năng và tỷ lệ lây nhiễm HIV là sử dụng ma túy tổng hợp hay lạm dụng rượu bia rồi quan hệ tình dục không an toàn. (2)

Nắm được các con đường và nguy cơ lây nhiễm HIV để có những biện pháp phòng tránh hiệu quả. Nếu “trót” có những hoạt động mua bán mại dâm hay tiếp xúc với máu của người bị HIV hãy đi xét nghiệm máu để có kết luận chính xác để bản thân không phải là nguồn lây cho cộng đồng và bảo vệ những người xung quanh. HIV không dễ lây, người bị HIV nhiều khi cũng chỉ là nạn nhân của người khác, hãy đối xử bình đẳng với người HIV để họ có cuộc sống bình thường và cống hiến cho xã hội.

Triệu chứng HIV

Đúng ra không thể có một triệu chứng nào cụ thể cảnh báo bạn sắp bị  HIV hay khi bạn đang hoàn toàn khỏe mạnh, bỗng dưng thấy có những triệu chứng này thì lập tức cho rằng mình bị HIV rồi trở nên u uất, chán nản, mệt mỏi. (3) Gọi đây là những  biểu hiện lâm sàng của HIV thì đúng hơn. Tức là khi bạn đã bị nhiễm HIV mà không biết thì bản thân sẽ có những biểu hiện như sau:

  • Nhiễm trùng ban đầu: chỉ khoảng 50% bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn đầu có biểu hiện nhiễm trùng cấp giống như cảm cúm với các triệu chứng như sốt, viêm bạch hầu, có ban dát – sẩn, đau cơ khớp, nhức đầu, mất ngủ… một số ít bệnh nhân có ỉa lỏng, buồn nôn, rối loạn cảm giác… Với những biểu hiện nyaf thì hiếm ai đi khám mà nếu có đi bác sĩ cũng sẽ chỉ chẩn đoán cúm mà thôi. Các triệu chứng này thường tự khỏi sau vài tuần.
  • Nhiễm trùng cấp: các triệu chứng này thường xảy ra từ 2 – 6 tuần (trung bình 3 tuần) sau khi nhiễm HIV. Các tế bào CD4, CD8, sau đó có trong tuỷ đơn tế bào CD8 và các lympho bào khác giảm sút về số lượng. Một số bệnh nhân, số lượng CD4 bị ức chế nặng gây hậu quả bệnh tiến triển nhanh chóng. Sau phơi nhiễm HIV, nồng độ virut và kháng nguyên P24 tăng cao trong huyết thanh, sau đó giảm (khi nồng độ kháng thể kháng HIV tăng cao). 1 – 3 tuần sau thời điểm khởi phát, phát hiện được kháng thể kháng HIV typ IGM. Kháng thể typ IGM tăng cao ở tuần 2 – 5 và mất đi trong vòng 3 tháng. Sau đó kháng thể typ IG6 cũng được tạo thành. Tuy nhiên tất cả những điều này chỉ có thể phát hiện và đánh giá bằng các xét nghiệm cụ thể.

Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa? virus hiv tấn công

  • Giai đoạn thầm lặng: đúng như tên gọi của nó thì gia đoạn này diễn ra khá âm thầm và không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Khi xét nghiệm thấy lượng tế bào CD4 vẫn lớn hơn 500/mm3 máu nhưng giảm dần (trung bình giảm 40 – 80 tế bào/mm3 mỗi năm). Nếu không được điều trị bằng thuốc kháng Retrovirut chỉ < 5% bệnh nhân tiến triển đến AIDS hoặc tử vong trong 18 – 24 tháng.
  • Giai đoạn trung gian: một số bệnh nhiễm trùng dễ dàng có cơ hội tấn công khi tếbào CD4 chỉ còn từ 200 đến 500 tế bào/mm3 máu. Các bệnh hay gặp là nhiễm Herpes simplex tái diễn, zona, candida hầu họng hoặc candida âm hộ. Các triệu chứng có thể cảm nhận hay nhìn thấy rõ ràng là

+ Giảm cân không rõ nguyên nhân

+ Ỉa chảy kéo dài, hay tái diễn.

+ Đau cơ, khớp, nhức đầu, mệt mỏi… xuất hiện từng đợt

+ Viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn…

  • HIV giai đoạn muộn: với số lượng CD4 chỉ còn khoảng 50 – 200 tế bào/mm3. Các bệnh như viêm phổi do Pneuxocystis carinii (PCP), lao nhiễm Toxoplasma gondii, nấm… và bệnh ác tính lepuphoma, Sarcoma kaposi rất có khả năng cao xâm nhập. Các biểu hiện như sốt kéo dài, gầy sút cân, ỉa chảy kéo dài, đau cơ khớp v.v… thường xuyên diễn ra. Kèm theo đó có thể xuất hiện các bệnh lý thần kinh như viêm dây thần kinh, liệt dây thần kinh sọ não, bệnh lý tuỷ, bệnh lý thần kinh ngoại vi … Nếu số lượng CD4 quá thấp (> 50 tế bào/mm3) có thể bị viêm võng mạc, hoặc có thể bị ung thư cổ tử cung ở nữ và Carcinoma trực tràng ở nam hoặc Papilloma thanh quản… Nếu không được điều trị 50 – 70% bệnh nhân trong giai đoạn này chuyển thành AIDS và tử vong trong vòng 18 – 24 tháng.
  • Giai đoạn quá muộn: khi đã chuyển biến đến giai đoạn này, cơ thể gần như suy sụp và không có khả năng chống lại bệnh gì với số lượng tế bào CD4 < 50 tế bào/mm3. Cân nặng giảm sút nghiêm trọng kèm theo các biểu hiện chán ăn, ỉa chảy. (4)

Điều trị HIV như thế nào?

Từ thời virus HIV xuất hiện và tạo thành cơn ác mộng toàn cầu đến nay đã gần 100 năm, y học đã phát triển rất nhiều nhưng các biện pháp can thiệp mới chỉ nhằm ngăn cản sự tiến triển của bệnh và đối phó với các triệu chứng do bệnh gây ra mà không thể điều trị triệt để hay ngăn ngừa an toàn. Khi phát hiện ra bệnh, người bệnh được tiến hành chỉ định điều trị nhằm đảm bảo duy trì cuộc sống một cách tốt nhất cho những người đã nhiễm HIV hoặc đang phát triển bệnh AIDS, và hạn chế tối đa sự phát triển, lây lan của HIV trong cộng đồng với các biện pháp như:

  • Điều trị hỗ trợ: phương pháp này không dùng đến thuốc mà tác động bằng các biện pháp nhằm tăng cường sức đề kháng cho cơ thể như giữ tinh thần lạc quan; bổ sung đầy đủ chất chất dinh dưỡng, vitamin; Thể dục đều đặn; Có lối sống lành mạnh: không sử dụng rượu, thuốc lá, ma túy, an toàn tình dục…
  • Điều trị dự phòng phơi nhiễm: khi có các tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh HIV như bị các vật nhọn đâm gây rách da có chảy máu hay bị dịch tiết, máu bắn vào niêm mạc mắt (thường gặp ở nhân viên y tế) hay do quan hệ tình dục không an toàn… cần tiến hành điều trị dự phòng phơi nhiễm nhằm ngăn chặn HIV xâm nhập vào tế bào. Thời điểm điều trị tốt nhất là 6 giờ sau khi có tiếp xúc đến tối đa 72 giờ, bằng thuốc kháng sinh (ARV) trong vòng 4 tuần.

Bạn đã hiểu hết về căn bệnh thế kỷ HIV chưa? điều trị bằng arv

  • Điều trị phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con: tùy theo tình trạng của người mẹ lúc mang thai mà các bác sĩ sẽ đưa ra những chỉ định điều trị phù hợp nhưng chủ yếu là điều trị bằng ARV. Em bé mới sinh ra sẽ được uống ARV trong 24 giờ đầu và  được theo dõi tại các bệnh viện Nhi đồng. Nếu áp dụng phương pháp này thì tỉ lệ trẻ nhiễm HIV từ mẹ sẽ giảm từ 30% xuống còn khoảng 6%.
  • Điều trị nhiễm trùng cơ hội: Nhiễm trùng cơ hội là những bệnh nhiễm trùng xuất hiện khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch do HIV như tiêu chảy, nấm miệng, giời leo, herpes, lao, viêm não… Các bệnh này xuất hiện do hệ miễn dịch của bệnh nhân HIV bị phá vỡ vì thế cần điều trị dứt điểm các bệnh này theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Vì người nhiễm HIV rất dễ mắc bệnh nên cần đề phòng bằng cách giữ vệ sinh tối đa trong ăn uống cũng như trong sinh hoạt thường ngày. Đồng thời tiêm chủng đầy đủ và điều trị phòng ngằ bằng các loại thuốc được chỉ định.
  • Điều trị kháng HIV bằng bằng thuốc ARV nhằm ngăn chặn sự phát triển của HIV, giúp tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, từ đó nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ, giúp người bệnh tiếp tục làm việc, học tập. Tuy nhiên khi dùng thuốc người bệnh sẽ xuất hiện những biểu hiện như buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, đau bụng, nổi ban đỏ, gây ngứa, thiếu máu, rối loạn giấc ngủ hay các bệnh thần kinh ngoại vi(5)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *