Home / Kiến thức / Bệnh alzheimer và những điều cần biết

Bệnh alzheimer và những điều cần biết

Alzheimer là dạng phổ biến nhất của sa sút trí tuệ dẫn đến mất trí nhớ ở tuổi già trong khi Việt Nam lại đang là nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới. Bệnh đang có tỉ lệ ngày càng tăng và là nguyên nhân gây tử vong cao thứ 6 trên thế giới. Bạn đã biết những gì về căn bệnh không thể ngăn chặn này?

Bệnh alzheimer là gì?

Alzheimer hay bệnh đãng trí là bệnh gặp phổ biến nhất ở người trên 65 tuổi tuy nhiên bệnh đang ngày càng trẻ hóa, có những trường hợp dưới 40 tuổi đã được phát hiện bệnh. Tuổi trung bình là 80 và gặp nhiều ở phụ nữ hơn nam giới một phần cũng bởi phụ nữ có tuổi thọ cao hơn. Bệnh khiến trí nhớ suy giảm nghiêm trọng và ảnh hưởng đến não bộ, ngôn ngữ và tư duy của người bệnh. Ở giai đoạn cuối bệnh nhân thường bị tổn thương não nghiêm trọng và gây trở ngại rất lớn đến sinh hoạt hàng ngày.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết alzheimer là gì

Người mắc bệnh này không có nghĩa là mất trí nhớ hoàn toàn. Nhiều trường hợp không nhớ tên người thân hiện tại nhưng lại rất rõ chuyện quá khứ và cũng có thể khiến bệnh nhân thay đổi trong tính cách và hành vi xã hội. Tuy nhiên, một số nguyên nhân gây mất trí nhớ là chữa trị được và thậm chí đảo ngược.

Nguyên nhân gây bệnh

Chứng sa sút trí tuệ xảy ra do rất nhiều nguyên nhân và không phải lý do nào cũng gây ra những bệnh tương tự nhau. Bệnh được xác định xảy ra là do sự phá hủy các tế bào não bao gồm mảng bám (protein bình thường vô hại beta – amyloid) và sợi rối (protein bất thường) tuy nhiên nguyên nhân gây Alzheimer lại chưa được xác định một cách rõ ràng. Nhưng có một số yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến bệnh đã được xác định và được chia ra thành 2 nhóm:

Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi: đây là những yếu tố bản thân người bệnh không thể kiểm soát

  • Tuổi già là yếu tố nguy cơ mạnh nhất đã được biết. Sa sút trí tuệ tăng khi tuổi cao nhưng đó không phải là một phần tất yếu của quá trình già hóa. Tỷ lệ bệnh khoảng 1-2% ở lứa tuổi 65 và tăng đến 5% ở nhóm 80 tuổi.
  • Lịch sử gia đình: nếu trong gia đình có người bị Alzheimer thì nguy cơ mắc bệnh cũng sẽ cao hơn. Tuy nhiên cần nhìn nhận đầy đủ về vấn đề này khi có những người bệnh mà trong gia đình không có ai mắc bệnh và ngược lại. Nếu có đột biến di truyền cụ thể, có nguy cơ lớn hơn đáng kể của việc phát triển một số loại bệnh mất trí nhớ.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết nguyên nhân do tuổi già

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi: bản thân chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được những yếu tố này bằng thói quen sinh hoạt hàng ngày.

  • Những người bị suy giảm nhận thức nhẹ;
  • Tiền căn chấn thương đầu;
  • Trầm cảm: không có sự khẳng định nào rằng trầm cảm sẽ dẫn đến Alzheimer tuy nhiên trầm cảm vào cuối đời, đặc biệt là ở nam giới có nguy cơ cao sẽ dẫn đến căn bệnh này.
  • Lối sống không lành mạnh như: ít vận động, hút thuốc lá, chế độ ăn thiếu rau và trái cây bởi chúng gây ra rất nhiều bệnh tật trong đó bao gồm xơ vữa động mạch và các loại bệnh về mạch máu, từ đó tăng nguy cơ mắc Alzheimer.
  • Mắc một số bệnh về tim mạch, tăng huyết áp, tăng cholesterol trong máu, tăng nồng độ homocysteine là những yếu tố nguy cơ đáng kể với việc sa sút trí tuệ mạch máu vì nó cản trở quá trình lưu thông của máu lên não và có thể gây đột quỵ
  • Quá trình học tập và giao tiếp xã hội gặp vấn đề như: mức độ giáo dục chính quy thấp, công việc nhàm chán, thiếu các hoạt động thử thách trí não (đọc sách, chơi trò chơi, chơi nhạc cụ) hoặc ít giao tiếp xã hội.
  • Cholesterol. Mức cao lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) cholesterol, các cholesterol “xấu”, có thể làm tăng nguy cơ phát triển chứng mất trí mạch máu đáng kể. Một số nghiên cứu cũng đã thấy liên kết của nó với tăng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer.
  • Bệnh tiểu đường: đặc biệt là tiểu đường tuýp 2 có thể làm tăng nguy cơ mắc cả hai bệnh là Alzheimer và sa sút trí tuệ mạch máu.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết nguyên nhân do tiểu đường

  • Estrogen cao ở phụ nữ đã được thấy liên kết với nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ mất trí nhớ. Điều này có thể được xác định thông qua xét nghiệm máu.
  • Homocysteine máu. Homocysteine – một loại acid amin được sản xuất bởi cơ thể có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ mạch máu. Khi chuyển hóa đúng, homocysteine sử dụng vitamin B – 6 , B – 12 và axit folic. Nếu điều này không xảy ra đúng, nó có thể không chuyển hóa các vitamin tốt, hoặc  không có đủ chúng trong chế độ ăn uống. Xét nghiệm máu có thể xác định xem liệu có mức độ homocysteine cao. (1)

Triệu chứng của Alzheimer

Bình thường chính bản thân chúng ta có thể cũng có những tình trạng này, tuy nhiên nếu xuất hiện ở giai đoạn tuổi trung niên hay lặp đi lặp lại nhiều lần thì hãy nên cảnh giác, có thể đó là sự cảnh báo sớm về bệnh Alzheimer. Các triệu chứng phổ biến là:

  • Trí nhớ suy giảm, hay quên các ngày tháng, sự kiện quan trọng. Nhiều khi mới tìm hiểu xong một thông tin rồi có thể quên ngay lập tức hay phải đọc lại một trang sách rất nhiều lần.
  • Gặp khó khăn trong việc lập kế hoach hay giải quyết các vấn đề liên quan đến sự tập trung, tốn nhiều thời gian cho một vấn đề mà bình thường có thể làm một cách đơn giản và dễ dàng như lái xe đến một địa điểm yêu thích hay ghi nhớ luật lệ của trò chơi mới…

Bệnh alzheimer và những điều cần biết trí nhớ giảm sút

  • Gặp khó khăn trong trong việc tìm hiểu các hình ảnh trực quan và mối quan hệ trong không gian.
  • Gặp vấn đề khi theo dõi hay tham gia trò chuyện, hay dừng lại giữa chừng và không biết làm cách nào để tiếp tục. Gặp khó khăn trong cả việc hiểu và diễn đạt.
  • Giảm khả năng phán đoán và đưa ra quyết định.
  • Tự rút lui khỏi các sở thích, hoạt động xã hội, dự án công việc hay các môn thể thao.
  • Tâm trạng và tính cách thay đổi. Trở nên bối rối, đa nghi, chán nản, sợ hãi và thường xuyên lo lắng, bệnh nặng hơn còn có thể xuất hiện những ảo tưởng và có những hành vi và hành động không phù hợp. (2)

Alzheimer có điều trị được không?

Bệnh không có phương pháp điều trị dứt điểm chỉ mà chỉ có thể kết hợp các phương pháp để duy trì tình trạng bệnh ở mức ổn định nhất. Viêc điều trị bằng thuốc chỉ có thể được thực hiện khi có sự cho phép của bác sĩ. Các loại thuốc được sử dụng là các chất cholinergic có tác dụng ức chế men acetylcholinesterase, thuốc có tác dụng chọn lọc trên enzym đích ở hồi hải mã và vỏ não, những vùng này bị ảnh hưởng nhiều nhất trong bệnh Alzheimer. Tuy nhiên loại thuốc này có kèm theo các tác dụng phụ như buồn nôn, nôn, chậm nhịp tim. Các thuốc như nivalin, gliatylin cũng cho kết quả khả quan. Nếu người bệnh có các triệu chứng trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác thì sẽ đươc chỉ định dùng thêm các loại thuốc để điều trị những bệnh này.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết sự chăm sóc của người thân

Vậy nhưng với Alzheimer thì sự quan tâm, chăm sóc của người thân lại có vai trò quan trọng hơn cả. Bệnh Alzheimer khi trở nặng sẽ làm cho người bệnh không có khả năng đáp ứng những nhu cầu riêng của họ, cho nên việc chăm sóc phải được quản lý chặt chẽ trong quá trình của bệnh. Việc suy giảm nhận thức khiến người bệnh trở thành đứa trẻ to xác, việc chăm sóc trở nên vất vả hơn hơn nhiều so với chăm trẻ con hay người bệnh khác, những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình có thể sẽ xuất hiện trong giai đoạn này gây ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh. Kiên nhẫn và thấu hiểu chính là những gì người nhà bệnh Alzheimer cần có và điều đó quan trọng hơn rất nhiều so với việc uống thuốc. (3)

Biến chứng alzheimer

Trí tuệ giảm sút không chỉ gây khó khăn trong sinh hoạt bình thường mà còn có thể kéo theo những vấn đề như:

  • Suy dinh dưỡng: người bệnh có thể sẽ giảm bớt hoặc ngừng ăn uống tại một số điểm dù có người thân ở bên cạnh. Chán ăn, mất cảm giác đói, táo bón và các vấn đề khác như nhiễm trùng cũng có thể xảy ra khiến người bệnh trở nên gầy còi, ốm yếu.
  • Mất tự chủ trong vấn đề vệ sinh: khi bệnh trở nặng người bệnh sẽ mất khả năng độc lập hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc sống hàng ngày. Những công việc vệ sinh cá nhân như tắm, ăn mặc, đánh răng và đi vệ sinh một mình cũng không thể tự làm.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết mất ngủ

  • Suy giảm tình cảm: họ không còn có thể nhận ra ai với ai, thậm chí quên cả người thân, thay đổi hành vi và nhân cách khiến những phản ứng với những thách thức cảm xúc đối phó với những thay đổi xấu đi. Giai đoạn đầu hay nhớ nhớ quên quên nếu không được an ủi, động viên mà bị miệt thị, chê bai, người bệnh có thể bị trầm cảm, tự cô lập mình và từ đó khó bộc lộ hay thể hiện cảm xúc.
  • Mê sảng: trạng thái này xuất hiện khi có những thay đổi đột ngột về môi trường xung quanh, mức độ hoạt động và thói quen khác có thể là nguyên nhân.
  • Rối loạn giấc ngủ: thức đêm ngủ ngày hay mất ngủ kéo dài là những biến chứng phổ biến. Hội chứng chân bồn chồn và ngưng thở khi ngủ cũng có thể gây trở ngại cho giấc ngủ.

Phòng bệnh alzheimer thế nào?

Mặc dù chưa có nghiên cứu cụ thể nào chỉ ra cách tuyệt đối để ngăn chặn Alzheimer nhưng những thói quen sinh hoạt tốt dưới đây góp phần quan trọng trong việc suy trì cơ thể khỏe mạnh và từ đó có thể giảm thiểu nguy cơ mắc Alzheimer. Đó là:

  • Giữ tâm trí hoạt động. Việc để não bộ “ngủ” quá lâu sẽ khiến nó trở nên trì trệ nên hãy duy trì thói quen “động não” thông qua việc giải câu đố và trò chơi chữ, học một ngôn ngữ, chơi một nhạc cụ, đọc, viết, sơn hoặc vẽ. Não bộ các hoạt động nhiều nguy cơ sa sút trí tuệ càng giảm.

Bệnh alzheimer và những điều cần biết tăng cường hoạt động trí não

  • Tích cực tham gia các hoạt động thể dục thể thao và các hoạt động xã hội khiến con người trở nên năng động hơn, tự tin hơn.
  • Giảm mức homocysteine. Nghiên cứu cho thấy liều cao vitamin B – folic acid, B – 6 và B – 12, giúp homocysteine thấp hơn và làm chậm sự tiến triển của bệnh Alzheimer.
  • Giảm mức cholesterol bởi chính các mảng bám xảy ra trong não của những người có cholesterol cao là một trong những nguyên nhân gây sa sút trí tuệ mạch máu.
  • Kiểm soát bệnh tiểu đường, giữ huyết áp ổn định là một trong những biện pháp giảm tình trạng sa sút trí tuệ mạch máu dẫn đến Alzheimer.
  • Duy trì một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Ăn một chế độ ăn uống khỏe mạnh là quan trọng vì nhiều lý do, nhưng các nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều trái cây, rau quả và omega – 3 fatty acid thường được tìm thấy trong cá và hạt nhất định, có thể có tác dụng bảo vệ và giảm nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ mất trí nhớ.
  • Tiêm chủng. Những người được tiêm chủng cúm gia cầm, uốn ván, bạch hầu và bại liệt có nguy cơ bệnh Alzheimer giảm đáng kể, do đó, tiêm chủng có thể có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh sa sút trí tuệ mất trí nhớ phát triển. (4)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *