Home / Kiến thức / Động kinh – bệnh lý não không thể coi thường

Động kinh – bệnh lý não không thể coi thường

Động kinh là một bệnh lý về tâm thần khá phổ biến. Tuy tỉ lẹ tử vong trực tiếp do bệnh gây ra không cao, chỉ chiếm tỉ lệ 1/300 nhưng nó là nguyên nhân dẫn đến nhiều cái chết khác. Động kinh không chỉ gây tác động trực tiếp tới sức khỏe của người bệnh mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống gia đình và những người xung quanh.

Khái niệm động kinh

Động kinh được định nghĩa là rối loạn mãn tính ở vỏ não do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc trưng bằng sự lặp đi lặp lại các cơn động kinh biểu hiện bằng các cơn bột phát ngắn, có tính chất định hình (giống nhau) và có khuynh hướng tái phát.

Động kinh - bệnh lý não không thể coi thường - khái niệm bệnh

Một định nghĩa khác về căn bệnh này thì động kinh là sự rối loạn chức năng thần kinh trung ương theo từng con do sự phóng điện đột ngột quá mức của neuron. Định nghĩa này được cụ thể hóa bằng các đặc tính là những cơn xuất hiện đột ngột và tự thoái lui, trong cơn có rối loạn chức năng thần kinh trung ương của não, thời gian cơn dài ngắn từ vài giây đến vài phút, cơn có tính chất định hình (cơn sau giống cơn trước), mất ý thức là biểu hiện thường thấy của cơn động kinh.

Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Tổ chức Quốc tế chống động kinh xác định thì động kinh là tình trạng xác định bởi cơn động kinh không do sốt cao, tái phát từ hai cơn trở lên, cách nhau trên 24 giờ và không bị kích thích lên cơn bởi các nguyên nhân được xác định tức thì, các rối loạn chuyển hóa cấp tính hoặc sự ngừng thuốc hay say rượu đột ngột.

Cơn động kinh là một rối loạn cấp tính ở não do sự phóng điện kịch phát của các tế bào neoron thần kinh xảy ra trên một người được xem là khỏe mạnh hoặc có một có quá trình thúc đẩy tiềm tàng, biểu hiện bằng các triệu chứng đột ngột về vận động, cảm giác, thần kinh thực vật và tinh thần.

Động kinh là một bệnh phổ biến có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp hơn ở trước tuổi 20 với khoảng 75%. Tỉ lệ mắc bệnh thay đổi theo lứa tuổi và cao nhất vào khoảng độ tuổi thứ 10 và giảm dần ở lứa tuổi 20. Số người bị mắc bệnh động kinh chiếm từ 0,5-0,8% dân số thế giới. Bệnh có tỉ lệ cao gấp 4 lần ở các nước chậm phát triển, gặp ở nam nhiều hơn nữa và có khoảng 10-25% liên quan đến tính chất gia đình. (1)

Nguyên nhân gây động kinh

Đa phần động kinh không xác định được nguyên nhân những có đến 1/4 các trường hợp là có căn nguyên trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra các cơn động kinh là:

  • Đẻ khó: chuyển dạ đẻ lâu phải can thiệp bằng foocxep, giác hút bị ngạt khi sinh
  • Chấn thương ở đầu
  • U não
  • Căn nguyên mạch máu
  • Nhiễm khuẩn, viêm não hoặc viêm màng não
  • Nhiễm độc
  • Nghiện rượu
  • Rối loạn chuyển hóa nội tiết
  • Thiếu oxy não
  • Bệnh thoái hóa thần kinh
  • Di truyền

Động kinh - bệnh lý não không thể coi thường - nguyên nhân

Như định nghĩa thì cơn động kinh xảy ra là do hậu quả của một sự phóng lực mạnh và tăng đồng bộ của một nhóm lớn những neuron bệnh lý. Sự tăng kích thích này xảy ra do sự kết hợp của 2 yếu tố là ngưỡng co giật thấp và các nguyên nhân tổn thương gây động kinh, trong đó phải kể đến vai trò của một số yếu tố như màng tế bào não hay GABA. (2)

Phân loại động kinh

Có rất nhều cách để phân loại căn bệnh này

Dựa theo nguyên nhân

  • Động kinh triệu chứng
  • Động kinh vô căn (động kinh nguyên phát)

Dựa vào phân vùng giải phẫu sinh lí, giải phẫu chức năng

  • Động kinh từng phần: là khi một nhóm neuron trong hệ thống thần kinh trung ương hư biến có khuynh hướng gây nên sự phóng lực bất chợt và đồng thời thì tùy vị trí chức năng của vùng não có nhóm neuron bệnh lý mà phóng lực sẽ gây nên những rối loạn chức năng tương ứng của vùng đó. Hiểu đơn giản thì đó là hiện tượng chỉ xảy ra ở từng phần nhất định và biểu hiện ra bên ngoài bằng cơn rối loạn chức năng vùng đấy. Và từ từng phần này lan tỏa ra các vỏ não gọi là cơn từng phần thể hóa. Trong động kinh từng phần lại chia ra thành:

+ Động kinh vận động: chỉ có những cơn kích thích vận động dẫn đến các cơn co giật

+ Động kinh cảm giác: kích thích xảy ra ở vùng cảm giác và biểu hiện ra ngoài là những cơn rối loạn cảm giác từng cơn một.

+ Động kinh giác quan: tự nhiên có những cơn mất hết vị giác, khứu giác, nghe thấy âm thanh lạ…

+ Động kinh phát âm: phát âm mất tiếng hoặc không nói được

+ Động kinh tâm thần: rối loạn ý thức, nhận thức hoặc tự nhiên liệt mà không có triệu chứng gì

+ Động kinh từng phần phức hợp

+ Động kinh ừng phần liên tục: biểu hiện giật ở mỗi bộ phận cơ thể như 1 ngón tay, một tay, ý thức tỉnh táo nhưng giật liên tục.

Động kinh - bệnh lý não không thể coi thường - sùi bọt mép

  • Động kinh toàn bộ: là những kích thích lan tỏa ra toàn bộ vỏ não

+ Cơn lớn: với những cơn co giật toàn thân

+ Cơn nhỏ: gồm các hội chứng co thắt gấp, cơn mất trương lực cơ, cơn giật cơ hai bên hay những cơn vắng ý thức (Absence)….

Theo tần số cơn động kinh

  • Động kinh cơn thưa: từ 3-6 tháng mới có một cơn
  • Động kinh cơn mau: một ngày có nhiều cơn ở giữa các cơn có khoảng tỉnh khá dài, rõ ràng
  • Động kinh liên tục: là những cơn động kinh nối tiếp nhau, giữa 2 cơn có một khoảng tỉnh ngắn.
  • Trạng thái động kinh: là những cơn động kinh gối lên nhau, cơn này chưa hết thì cơn sau đã tiếp tục, bệnh nhân hôn mê kèm theo những rối loạn thần kinh thực vật nặng nề. Nếu không được điều trị kip thời và đugns cách, bệnh nhân có thể tử vong. Đây là một dạng cấp cứu thần kinh tâm thần cần đặc biệt được lưu ý.

Ngoài ra còn có cách phân loại theo bảng phân loại quốc tế 1992 và theo triệu chứng, hội chứng tại hội nghị quốc tế về động kinh tại Paris 1992 hay theo biểu hiện lâm sàng và điện não cơn động kinh của Mỹ năm 1981 nhưng đến nay ít dùng.

Triệu chứng bệnh

Mỗi loại động kinh sẽ lại có những biểu hiện và triệu chứng khác nhau

Động kinh cơn lớn

Loại này có thể gặp ở mọi lứa tuổi và chiếm 10% trong các dạng động kinh. Dấu hiệu triệu chứng chỉ điểm vị trí kích thích hiện tượng thần kinh thường là một ảo giác, mùi khét, nóng ran người – thực chất là một cơn động kinh từng phần xảy ra quá nhanh. Đa số cơn động kinh xuất hiện đột ngột, bệnh nhân mất ý thức, có thể rống lên một tiếng, ngã vật ra bất cứ chỗ nào xuất hiện triệu chứng cơ bản của cơn. Đó là:

  • Giai đoạn 1: co cứng. Tất cả các cơ đều co cứng đột ngột khoảng 30-60 giây. Bệnh nhân ngừng thở và ngỡ vật như một khúc gỗ, có thể có tiếng kêu. Bệnh nhân có thể cắn vào lưỡi, môi…
  • Giai đoạn 2: co giật. Người bệnh giật cứng, trương lực cơ tăng kéo dài 3-5 giây, biểu hiện toàn thân, hai tay giật nhịp nhàng, chân duỗi cứng, mắt trợn ngược, đầu quay về một phá, rần số lúc đầu thưa sau nhanh mạnh hơn. Bệnh nhân có thể cắn vào lưỡi, môi, mặt mày tím tái, sau cơn co giật thưa dần và hết hẳn.
  • Gai đoạn 3: duỗi mềm trương lực cơ. Người bệnh mềm nhũn ra, bắt đầu thở nhẹ. Có thể đại tiểu tiện ra quần (rất ít gặp) hoặc sủi bọt mép.
  • Giai đoạn 4: giai đoạn này bệnh nhân bắt đầu hồi phục, có thể thở lại bình thường nhưng mở mắt ngơ ngác, tinh thần hoảng loạn, ý thức u ám. Đây là trạng thái hoàng hôn sau cơn động kinh và bệnh nhân nhiều khi có những hành động rất dã man, nguy hiểm… Tuy nhiên bệnh nhân không nhớ gì sau cơn, mệt mỏi và rất đau đầu.

Động kinh - bệnh lý não không thể coi thường - co giật

Động kinh cục bộ vận động

Chỉ kích thích ở vùng vận động, biểu hiện ra ngoài chủ yếu là những cơn co giật. Bệnh nhân có thể mô tả được những cơn này, tay lành nắm tay giật. Một số cơn động kinh đặc biệt có biểu hiện:

  • Cơn gian não: biểu hiện bằng chứng rối loạn thần kinh thực vật, đánh trống ngực, vã mồ hôi, đi tiểu rất nhiều sau cơn.
  • Cơn đột quỵ động kinh: bệnh nhân đột ngột mất ý thức ngã vật, bất động nhưng không co giật.
  • Cơn đau bụng: đau bụng dữ đọi không tìm thấy căn nguyên. EEG có sóng động kinh
  • Cơn nhịp tim chậm: nhịp tim chậm không có căn nguyên, EEG có sóng động kinh
  • Cơn động kinh thể lưỡi:  mất ý thức ngắn kèm đầu cổ quay về một bên, co cứng chân tay bên đối diện
  • Cơn động kinh ngoại tháp: co cứng các cơ, tay co gấp, chân duỗi
  • Cơn co cứng cục bộ ở vòng mi, các cơ bàn tay
  • Các cơn đau đầu dữ dội, ngắn, kèm theo buồn nôn.

Động kinh thùy thái dương

Loại động kinh này chỉ xảy ra ở người lớn. Bệnh nhân đang làm việc bỗng nhiên sắc mặt trở nên nhợt nhạt, miệng nhai nhóp nhép hoặc lặp đi lặp lại những hành động vô nghĩa như gãi đầu, sờ mặt…trên nền ý thức u ám và kéo dài trong khoảng 60 giây rồi tỉnh và lại tiếp tục công việc.

Ngoài ra bệnh nhân có thể có những biểu hiện khác như có cảm giác mừng vui, sợ hãi vô cớ, cảm giác mọi thứ xung quanh trở nên xa lạ hoặc ngược lại. Trong cơn hành vi của bệnh nhân có thể gây nguy hiểm cho chính bản thân và những người xung quanh do xuất hiện những cơn ảo giác. Cơn kéo dài vài phút hoặc có thể lâu hơn và người bệnh thì hoàn toàn quên hết khi tỉnh. Người bệnh khi lên cơn động kinh thường bị “biến đổi nhân cách”, trở nên cục cằn thô lỗ và có nhiều hành động thô bạo.

Cơ co thắt gấp

Trường hợp này gặp chủ yếu ở trẻ từ 2 tháng đến 3 tuổi và phổ biến nhất là khi trẻ được 6 tháng với tỷ lệ bé trai mắc nhiều hơn bé gái. Bệnh đi kèm với biểu hiện là chậm phát triển trí tuệ, nhìn trẻ như giật mình, đầu gật về phía trước, hai tay co vào bụng, hai chân co (tư thế bái phật), ki trẻ lẫy sẽ gật đầu còn khi ngồi thì như ngủ gật. Một ngày có khoảng trên 10 cơn.

Cơn giật 2 bên

Thường xảy ra ở trẻ trong độ tuổi từ 3 đến 6 với biểu hiện như đột ngột giật đều cân xứng 2 bên, có thể giật xuống hai chân, đứa trẻ ngã ra, giật 2 chân, mặt ngơ ngác. Cơn nhanh dưới 1 phút và vẫn còn ý thức trong cơn.

Cơn mất trương lực cơ

Đột ngột đứa trẻ mất hết trương lực cơ ngã khiến đầu đứa trẻ có rất nhiều sẹo. Cơn kéo dài từ 1 đến 2 phút.

Động kinh - bệnh lý não không thể coi thường - rối loạn trương lực cơ

Cơn Abcene

Trường hợp này có thể gặp ở độ tuổi từ khi lên 4 cho đến thiếu niên cới những cơn động kinh kéo dài từ 3 đến 5 phút với biểu hiện là các động tác đột nhiên ngừng lại rồi sau đó tỉnh và tiếp tục công việc. Hiện tượng phổ biến là viết chính tả sót chữ nhưng chỉ số thông minh bình thường và nếu được điều trị đúng cách có thể khỏi hoàn toàn khi trưởng thành. (3)

Điều trị động kinh

Động kinh nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách thì hoàn toàn có thể khỏi bệnh. Mục đích trong việc điều trị động kinh cơ bản là

  • Cắt hoặc giảm được số cơn động kinh cho người bệnh
  • Giảm tối đa các tác dụng không mong muốn của thuốc

Cho đến nay thì hóa trị liệu vẫn đóng vai trò quan trọng trong điều trị động kinh và để cách thức này đạt được hiệu quả cao, trước hết cần tuân thủ một số nguyên tắc như:

  • Tuân theo chỉ định của bác sĩ dựa theo tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân
  • Dùng thuốc hàng ngày, đúng và đủ liều quy định, không được tự ý tăng, giảm hay ngừng liều đột ngột.
  • Nếu phải thay thuốc trong quá trình điều trị thì việc thay thuốc phải thực hiện từ từ trong 7 ngày của quá trình điều trị, không được chuyển thuốc đột ngột.
  • Theo dõi diễn biến bệnh và biểu hiện thứ phát của thuốc để kịp thời theo dõi và xử lý đồng thời điều chỉnh liều lượng thuốc.
  • Không được kết hợp 2 thứ thuốc cùng loại
  • Kiểm tra máu, chức năng gan, thận theo lịch của bác sĩ
  • Chế độ ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi phù hợp
  • Điều trị kiên trì và theo dõi khoa học. (4)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *