Home / Kiến thức / Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z

Lao phổi là bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp có tỉ lệ phổ biến nhất trong tổng số bệnh lao với 80%. Lao phổi có diễn biến phức tạp nhưng với sự phát triển của y học hiện đại ngày nay lao phổi đã không còn là bệnh nan y khó chữa. Tuy vậy đây là bệnh dễ lây và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, vì thế việc phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời sẽ giúp ích rất nhiều trong quá trình điều trị căn bệnh này.

Bệnh lao phổi là gì?

Lao phổi là bệnh do trực khuẩn lao có tên Mycobacterium tuberculosis thuộc họ Mycobacteriaceae gây ra. Nồng độ cồn và axit trong điều kiện có thể diệt được những loại vi khuẩn khác thì Mycobacterium tuberculosis lại dễ dàng kháng lại. Chúng tồn tại trong đờm, rác ẩm và tối trong nhiều tuần nhưng rất dễ bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt trời hay ở mức nhiệt 100 độ C trong 5 phút.

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - lao phổi là gì

Bệnh lây từ người sang người qua đường hô hấp với khả năng phát tán mạnh trong không khí. Cứ 1 người bị lao phổi thì có khả năng lây nhiễm cho từ 10 đến 15 người tiếp theo và phổ biến ở thành thị, những khu dân cư đông đúc hơn là ở nông thôn.  Vi khuẩn lao phổi có thể tấn công bất cứ ai nhưng chủ yếu là gây cho người lành, hay gặp nhất ở tuổi trẻ, phụ nữ có thai và cho con bú. Những người đang bị những bệnh mạn tính khác như đái tháo đường, HIV hay đang tiến hành điều trị bằng các loại thuốc ức chế miễn dịch cũng có khả năng cao mắc bệnh này.

Biểu hiện của bệnh lao phổi

Lao phổi là bệnh liên quan đến đường hô hấp vì thế nếu thấy những triệu chứng sau, hãy cẩn thận!

  • Ho: đây là triệu chứng phổ biến nhất của mọi căn bệnh liên quan đến phổi và mạn tính. Ho cũng có thể do thay đổi thời tiết, do dị nguyên hoặc đơn giản chỉ là những phản ứng bình thường của cơ thể nhưng cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo những căn bệnh như viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi… Nếu những cơn ho kéo dài dai dẳng trên 3 tuần, dùng thuốc kháng sinh mà không khỏi, đồng thời đi khám được xác định không phải do các bệnh như viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi thì cần phải nghĩ đến có thể là do lao phổi.
  • Khạc ra đờm: đờm là chất dịch đậm đặc, nhầy, màu vàng nhạt, có thể xanh kết dinh trong cổ họng, lỗ mũi gây khó thở cho người bệnh. Đây là biểu hiện cho thấy hệ miễn dịch đang làm việc hiệu quả nhằm kháng viêm nhưng cũng có thể là triệu chứng tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Cùng với ho thì khạc đờm cũng là triệu chứng rất phổ biến ở những người bị lao phổi. Nếu đã tiến hành điều trị mà vẫn không khỏi trong khoảng 3 tuần, có khả năng lao phổi đã ghé thăm bạn rồi.
  • Ho ra máu: ho thì có thể coi là phản ứng bình thường chứ ho ra máu thì chắc chắn sức khỏe của bạn đang có vấn đề. Có thể là những bệnh lý liên quan đến đường hô hấp nhưng cũng có thể là những bệnh như tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn đông máu, thiếu hụt vitamin C…gây ra. Khoảng 60% trường hợp bị lao phổi  và 10% bệnh nhân có triệu chứng ở giai đoạn khởi phát sẽ gặp tình trạng này.

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - ho ra máu

  • Đau ngực, khó thở: đây là triệu chứng không thường xuyên. Đau ngực thường chỉ biểu hiện ở một vị trí cố định do ho nhiều gây ức chế lên phế quản khiến người bệnh cảm thấy đau ngực. Biểu hiện khó thở thường chỉ gặp khi có những tổn thương rộng ở phổi hoặc khi phát hiện bệnh muộn để lại những tổn thương khiến khả năng trao đổi khí trở nên khó khăn và vì thế người bệnh sẽ có cảm giác đau ngực, khó thở.
  • Ngoài ra người bệnh có thể có những biểu hiện khác như mệt mỏi, chán ăn, dẫn đến gầy, sụt cân. Sốt ở nhiều dạng như sốt cao, sốt thất thường, người bệnh hay bị gai lạnh về chiều hay ra mồ hôi trôm cũng có thể là những triệu chứng cảnh báo nguy cơ lao phổi, nhất là khi có kèm theo các triệu chứng hô hấp khác như ho, khạc đờm hay ho ra máu…. (1)

Nguyên nhân gây bệnh

Như đã nói ở trên, lao phổi do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis xâm nhập vào phổi và gây nên. Chúng dễ dàng tấn công cơ thể khi hệ miễn dịch suy yếu, đặc biệt khi người bệnh đã mắc những bệnh như đái tháo đường, HIV hay cơ thể suy nhược…

Việc tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, không khí bụi bặm, nhiễm khuẩn cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh. Với những người có sức đề kháng tốt, vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt ngay khi vào cơ thể nhưng với những người sức khỏe kém, chúng sẽ tấn công, có thể bệnh sẽ chưa phát triển ngay nhưng diễn tiến âm ỉ ben trong, gặp điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát.

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - ô nhiễm không khí

Lao phổi lây truyền qua đường hô hấp, vì thế việc tiếp xúc với người bị bệnh lao phổi mà không có các biện pháp bảo vệ là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh. Khi người bệnh ho, hắt hơi, vi khuẩn lap phổi trong nước bọt sẽ được phát tán ra ngoài không khí và phân tán xung quanh. Nếu người bình thường hít phải thì nguy cơ cao cũng sẽ bị nhiễm bệnh. Việc tiếp xúc với người bệnh càng lâu, trong thời gian càng dài thì khả năng mắc bệnh càng cao, dù cho có đeo khẩu trang đi chăng nữa.

Một số những yếu tố có thể tác động đến việc hình thành bệnh lao phổi có thể kể đến như tuổi tác, yếu tố gen hay môi trường sống. Lao phổi gặp nhiều nhất ở lứa tuổi từ 10 đến 14 do có những thay đổi về nội tiết hay ở người già, người bị những bệnh khiến hệ miễn dịch suy yếu. Chiến tranh, điều kiện sống thấp, môi trường khí hậu ẩm thấp là những yếu tố thuận lợi khiến cho vi khuẩn lao phổi hình thành và phát triền. (2)

 

Biến chứng lao phổi có thể gây ra

  • Giãn phế quản: đây là biến chứng hay gặp nhất ở người lớn nhưng cũng có thể xảy ra ở trẻ em và gây tổn thương ngay trong lòng phế quản. Vi khuẩn lao phổi sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy mô phổi, đồng thời ngăn chặn tổ chức xơ phát triển khiến phể quản bị tổn thương và biến dạng. Giãn phế quản không chỉ gây tác động xấu tới sức khỏe người bệnh, làm tăng tần suất những cơn ho, ho ra máu mà còn có thể dẫn đến tử vong.
  • Ho ra máu: đây vừa là biểu hiện vừa là biến chứng do lao phổi gây ra. Lượng máu ít hay nhiều còn phụ thuộc vào tình trạng của từng bệnh nhân. Biến chứng này có thể chữa khỏi nhưng cũng có thể làm hoại tử thành động mạch và gây tử vong chỉ trong vòng vài phút.
  • Tràn khí màng phổi: đây là một biến chứng nặng do khuẩn lao dạng bóng khí hình thành sát màng phổi bị vỡ và gây ra tràn mủ – tràn khí màng phổi khiến bệnh nhân đột nhiên cảm thấy tức ngực, khó thở, có thể dẫn tới suy hô hấp cấp và nguy hiểm đến tính mạng

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - tràn khí màng phổi

  • Suy hô hấp mạn tính: nguyên nhân là do các mô phổi đã phải chịu quá nhiều tổn thương hoặc các tổn thương quá nặng đến mức không thể phục hồi. Phổi bị xơ hóa, việc trao đổi khí gặp nhiều khó khăn và từ đó khiến người bệnh bbij suy hô hấp.
  • U nấm phổi: do vi nấm Aspergillus fumigatus bám vào các hang lao – vùng phổi rỗng do vi khuẩn lao tấn công mô phổi để sinh sôi và hình thành các u nấm trong phổi.
  • Xơ phổi: một khi đã bị vi khuẩn lao tấn công, các tế bào phổi đều sẽ hình thành sẹo – đó là xơ phổi. Thông thường những khối xơ này không gây tổn hại lớn cho phổi nếu đã được chữa khỏi. Tuy nhiên nếu khối xơ có kích thước lớn, chúng sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình hô hấp của người bệnh.

 

Điều trị lao phổi như thế nào?

Lao phổi ở giai đoạn nhẹ có thể được điều trị tại nhà nhưng cần tuân theo các nguyên tắc sau:

  • Cách ly người bệnh lao phổi để tránh lây nhiễm, khi tiếp xúc với bệnh nhân cần đeo khẩu trang, tránh để bệnh nhân tiếp xúc với trẻ em.
  • Tái khám định kỳ theo các mốc thời gian do bác sĩ chỉ định, thường phụ thuộc vào kết quả xét nghiệm đờm.
  • Bổ sung chất dinh dưỡng cần thiết cho người bệnh như kẽm (thịt bò, gan, hạt bí, ngũ cốc…), các loại vitamin A, C, E (có nhiều trong rau xanh, trái cây, các loại cá biển…), sắt (đậu nành, long đỏ trứng gà, nấm, mộc nhĩ…)….
  • Sử dụng thuốc đúng thời gian và liều lượng theo sự chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không tự ý tiến hành các biện pháp điều trị khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ chuyên khoa.

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - cách ly người bệnh

Khi bệnh trở nặng và xuất hiện các biến chứng như ho ra máu, khó thở hay các biểu hiện tăng nặng khác, cần nhập viện để tiến hành điều trị theo phác đồ của chuyên gia. Hiện này tại Việt Nam có 3 phác đồ đang được áp dụng để điều trị căn bệnh này đó là:

  • Phác đồ điều trị lao phổi mới 2 SRHZ/ 6 HE được áp dụng cho mọi đối tượng lao phổi giai đoạn đầu.
  • Phác đồ điều trị lao phổi thất bại, tái phát: 2 SRHZE/ 1RHZE/ 5 R3H3E3 dành cho những đối tượng đã hoàn thành phác đồ nhưng AFB vẫn (+) hoặc sau khi hoàn thành phác đồ 2SHRZ/6HE, AFB đã (-) nhưng tái lại.
  • Phác đồ điều trị lao tại nahf cho trẻ em 2HRZ/4RH

Việc áp dụng phác đồ nào, thời gian điều trị ra sao và kết hợp với những loại thuốc gì, với những bệnh nhân có tiền sử bệnh gan, thận cần lưu ý những gì, tất cả đều phải tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Các biện pháp phòng tránh lao phổi

Việc phát hiện sớm những người bị lao phổi, cách ly khỏi cộng đồng và chữa dứt điểm bệnh cho họ chính là biện pháp dự phòng quan trọng nhất nhằm “cắt đứt nguồn lây.  Tuy nhiên cách tốt nhất để chữa bệnh là không để hình thành bệnh. Muốn thế cần phải :

– Làm tốt công tác truyền thông và giáo dục cho toàn dân. Làm sao để mọi người hiểu và tự ý thức được những nguy hiểm của bệnh để có các biện pháp tăng cường sức khỏe, làm sạch và thông thoáng tốt môi trường sống.

Kiến thức về bệnh lao phổi từ A đến Z - tiêm vacxin

– Mỗi tổ chức phải thành lập 1 tổ chống lao cùng với mạng lưới là các nhân viên y tế xã có nhiệm vụ phát hiện những người nghi mắc lao. Nhân viên y tế xã theo dõi sát sao và  giới thiệu những người ho khạc kéo dài trên 2 tuần đến tổ chống lao huyện để khám, đồng thời xác định bệnh lao phổi bằng soi đờm trên kính hiển vi.

– Tại những nơi phát hiện có bệnh nhân lao phổi cần cách ly khỏi cộng đồng, luôn phải đeo khẩu trang khi nói chuyện hoặc tiếp xúc với người khác. Không khạc nhổ bừa bãi và tận dụng ánh mặt trời để tiêu diệt vi khuẩn lao.

– Tiêm phòng vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh.

– Với những người có nguy cơ cao mắc lao như bệnh nhân HIV cần được uống INH 300mg/ngày trong 6 tháng để điều trị dự phòng.

– Tại những nơi tập trung đông ngườivà buồng bệnh cần được đảm bảo vệ sinh, thoáng mát, có hệ thống thông gió tốt. Bố trí nơi ở và phòng làm việc sao cho có thể tận dụng tối đa ánh nắng và gió. (5)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *