Home / Kiến thức / Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ

Bộ não có vai trò quan trọng thế nào đối với mỗi người là điều không cần phải nói thêm, những tổn thương ở não vì thế cũng nguy hiểm hơn rất nhiều những cơ quan khác. Viêm màng não mủ là một trong những bệnh như thế.

Tổng quan về bệnh viêm màng não mủ

Viêm màng não mủ là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính của màng não do một số loại vi khuẩn gây nên. Bệnh có thể gặp ở bất cứ ai nhưng trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh hàng đầu, đặc biệt là vào mùa nóng hay khi thời tiết trở lạnh. Bệnh để lại những di chứng nặng nề và có thể gây tử vong rất nhanh nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời.

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ - tổng quan bệnh

Viêm màng não lây qua đường hô hấp, tuy khả năng lây truyền trực tiếp từ người sang người rất hiếm nhưng cũng không thể chủ quan với bất cứ điều gì.  Việc điều trị bệnh viêm màng não mủ hiện nay vẫn còn phức tạp và tiên lượng dè dặt nên việc tìm hiểu về bệnh là cần thiết, đặc biệt là với các bậc phụ huynh để có những biện pháp phòng bệnh hiệu quả và phát hiện bệnh sớm.

Các tác nhân gây viêm màng não mủ cần biết

Có ít nhất 14 nguyên nhân có thể gây viêm màng não mủ, trong đó có 3 căn nguyên chính cần biết là Hemophilus infuenza type B (HIB), phế cầu và mô cầu não. Tần suất mắc từng loại vi khuẩn tùy thuộc vào độ tuổi và các yếu tố liên quan tới sức đề kháng của cơ thể.

Ở lứa tuổi sơ sinh, vi khuẩn gây viêm màng não thường có liên quan đến các loại vi khuẩn cư trú trong âm đạo người mẹ và môi trường của trẻ sinh sống. Các vi khuẩn gây bệnh hay gặp như các vi khuẩn đường ruột Escherichia, Streptococcus nhóm B và các trực khuẩn gram âm khác (Klebsiella, Enterobeter, Serratia…). Ở trẻ sơ sinh, viêm màng não mủ còn kèm theo nhiễm khuẩn huyết.

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ - virus gây bệnh

Trẻ từ 1 đến 3 tháng tuổi hay bị viêm màng não mủ do HIB, phế cầu, E.coli gây ra. Trể trên 3 tháng tuổi đến 8 tháng tuổi, nguyên nhân phổ biến là do HIB, phế cầu não mô cầu. Dưới 1 tuổi là lứa tuổi có khả năng mắc viêm màng não mủ cao nhất.

Ở người lớn, các loại vi khuẩn Streptoccus suis, Neissseria meningiditis hay S.pneumonia là những loại vi khuẩn gây bệnh chủ yếu. Phế cầu, não mô cầu và L.monocytogenes là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu ở người già. (1)

Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng bị viêm màng não mủ

Các loại vi khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh nhưng bên cạnh đó còn có những yếu tố khác ảnh hưởng tới khả năng bị bệnh có thể kể đến như:

  • Môi trường sống: trẻ em sống trong các môi trường tập thể như nhà dưỡng nhi, nhà trẻ, các lớp mẫu giáo…dễ có nguy cơ mắc bệnh hơn các trẻ được chăm sóc tại nhà.
  • Các yếu tố miễn dịch của cơ thể: một số khuyết tật bẩm sinh hay mắc phải đã được ghi nhận có liên quan với nguy cơ mắc một số loại vi khuẩn. Sự bất thường trong cơ thể đề kháng của cơ thể như suy giảm miễn dịch hoặc có bất thường về đáp ứng miễn dịch cũng có khuynh hướng mắc các bệnh nhiễm khuẩn cao hơn
  • Những người nghiện rượu có tỷ lệ mắc viêm màng não mủ cao hơn 10-20% so với người không nghiện rượu.

Triệu chứng viêm màng não mủ

Ở giai đoạn đầu bệnh mới khởi phát thì người bệnh sẽ có các biểu hiện của nhiễm khuẩn như sốt, mệt mỏi, ở trẻ nhỏ có hiện tượng quấy khóc không lý do. Những thay đổi về tính tình sự linh hoạt của người bệnh là một trong những triệu chứng sớm, quan trọng nhất gợi ý viêm màng não. Ngoài ra, bệnh có thể khởi phát từ từ, trong nhiều ngày bằng các dấu hiệu nhiễm khuẩn đường hô hấp trên nên khó xác định thời điểm thật sự màng não bị viêm. Ở trẻ em càng nhỏ thì dấu hiệu kích thích màng não không rõ ràng, làm cho việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn.

Nếu bệnh khởi phát cấp tính thì có thể có các triệu chứng nặng của một nhiễm khuẩn huyết và diễn biến nhanh chóng đến viêm màng não trong vài giờ.

Khi bệnh ở giai đoạn toàn phát, bệnh biểu hiện rõ với hai hội chứng chính là

  • Hội chứng nhiễm khuẩn cấp tính: khi đó người bệnh có biểu hiện sốt cao 39,40 độ, có tính trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc như li bì, mệt mỏi, bỏ ăn, môi khô, da xanh tái, lưỡi bẩn…và đôi khi có bệnh cảnh của tình trạng sốc nhiễm khuẩn hay nhiễm khuẩn huyết.
  • Hội chứng màng não

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ - triệu chứng nhức đầu

+ Nhức đầu: thường xuất hiện liên tục, cả hai bên, nhất là vùng thái dương chẩm, lèm theo người bệnh có biểu hiện sợ ánh sáng, nằm co theo tư thế cò súng, mặt quay vào góc tối.

+ Nôn: nôn tự nhiên, nôn vọt dễ dàng, nhiều lần và không liên quan đến bữa ăn.

+ Táo bón là hiện tượng thường thấy nhưng ở trẻ em đôi khi xuất hiện trường hợp ỉa lỏng.

+ Khi đi khám có thể phát hiện được một hoặc nhiều sấu hiệu của hiện tượng kích thích màng não như gáy cứng, Kernig (+), Brudzinski (+), vạch màng não (+). Khám kỹ các bác sĩ có thể sẽ phát hiện được các biểu hiện tăng cảm giác đau.

+ Rối loạn tri giác, người bệnh li bì hoặc vật vã. Nặng hơn có thể hôn mê, liệt khu trú

+ Co giật, thường là co giật toàn thân nhưng cũng có thể gặp co giật cục bộ nửa người hoặc các cơ vùng đầu mặt, đặc biệt là các cơ quan vận nhãn.

Ngoài ra có thể gặp một số dấu hiệu có liên quan với căn nguyên gây bệnh như có ban xuất huyết hoại tử hình sao, đau khớp hay gặp trong viêm màng não do não mô cầu. Viêm phổi, viêm xoang, mụn phỏng trong viêm màng não do phế cầu. Các mụn mủ ở vùng đầu mặt hay gặp trong viêm màng não do tụ cầu vàng. Cũng có thể có các tình trạng như suy hô hấp, suy tuần hoàn do ức chế trung tâm và rối loạn thần kinh thực vật, mất nước và rối loạn điện giải. (2)

Những biến chứng do viêm màng não mủ gây ra

  • Dày dính màng não: xảy ra khi điều trị kéo dài nhưng bệnh không cải thiện. Dịch não tủy có phân ly đạm – tế bào và có sự mâu thuẫn giữa kết quả dịch não tủy và diễn biến lâm sàng.
  • Áp xe não, tràn mủ màng cứng: biểu hiện nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng, sốt cao kéo dài với hội chứng tăng áp lực nội sọ, liệt thần kinh khư trú, xác định chẩn đoán dựa vào chụp cắt lớp sọ não.

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ - biến chứng

  • Tràn dịch dưới màng cứng: hay gặp ở trẻ nhỏ, thường là tràn dịch vô khuẩn
  • Liệt khu trú: có thể gặp từ liệt các thần kinh vận nhãn, liệt một chi hay liệt nửa người, thường hồi phục dần khi khỏi bệnh nhưng cũng có thể tồn tại vĩnh viễn.
  • Một số biến chứng muộn như điếc hay giảm thính lực, chậm phát triển trí tuệ, chậm phát triển vận động, động kinh. (3)

Cách điều trị bệnh

Viêm màng não mủ là một bệnh cấp cứu, điều trị bằng kháng sinh là chủ yếu. Việc điều trị cần tuân theo phác đồ kinh nghiệm và đổi kháng sinh thích hợp khi có két quả kháng sinh đồ. Tiêm hoặc truyền tĩnh mạch theo giờ kết hợp điều trị hỗ trợ tích cực, phát hiện và xử trí sớm các biến chứng.

Mối nguy hiểm mang tên viêm màng não mủ - điều trị

Việc sử dụng kháng sinh phải tuân theo sự chỉ định của bác sĩ điều trị

  • Phác đồ kinh nghiệm được áp dụng khi chưa có kết quả cấy dịch não tủy hay kết quả cấy âm tính. Các bác sĩ sẽ dựa vào độ tuổi, đường vào, biểu hiện lâm sàng và dịch tễ để ước đoán vi khuẩn gây bệnh.
  • Đối với mọi căn nguyên thì kháng sinh thế hệ III được sử dụng, ưu tiên ceftriaxon hoặc cefotaxim. Nếu nghi ngờ do L.monocytogenes thì kháng sinh thế hệ III kết hợp với ampicilin. Nếu là do tụ cầu, kháng sinh thế hệ III sẽ được kết hợp với vancomycin.
  • Trong trường hợp cấy tìm được vi khuẩn thì dựa vào kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh, tùy nguyên nhân gây bệnh và tình trạng bệnh nhân mà các bác sĩ sẽ có những chỉ định phù hợp.
  • Các biện pháp điều trị hỗ trợ như hạ nhiệt bằng Paracetamol, chống viêm, chống phù não, phòng co giật…
  • Nếu có suy hô hấp thì tiến hành hút đờm dãi, thở oxy, đặt nội khí quản thở máy khi cần thiết.
  • Khi có suy tuần hoàn cần bù dịch và dùng các loại thuốc vận mạch (Dopamin, Adrenalin)
  • Nếu có rối loạn điện giải cần được theo dõi, phát hiện và điều trị kịp thời.
  • Bảo đảm chế độ dinh dưỡng bằng việc ăn qua sonde, nuôi dưỡng tĩnh mạch…
  • Người bệnh cần được theo dõi nhiệt độ, tình trạng hô hấp, tuần hoàn, tri giác và các biểu hiện tổn thương thần kinh. Nếu không có kết quả cấy hoặc tình trạng lâm sàng không được cải thiện thì cần chọc dò tủy sống lại sau 48 đến 72 giờ điều trị để đánh giá kết quả điều trị và điều chỉnh chế độ điều trị kịp thời.

Các biện pháp phòng bệnh hiệu quả

Dự phòng chung

  • Thực hiện cách ly người bệnh, phòng hộ cá nhân, thông báo dịch đối với nhiễm khuẩn gây bệnh nguy hiểm như não mô cầu.
  • Tuyên truyền giáo dục cộng đồng giữ vệ sinh ăn uống, điều trị kịp thời các bệnh nhiễm khuẩn

Hóa dự phòng

Áp dụng cho người chăm sóc trực tiếp cho người bệnh. Tùy từng tình trạng khác nhau mà có những biện pháp khác nhau theo chỉ định của bác sĩ

Tiêm phòng

  • Vaccin HIB: trẻ dưới 1 tuổi cần được tiêm 2 liều cách nhau 2 tháng; trẻ từ 1-5 tuổi tiêm 1 liều.
  • Não mô cầu nhóm A và C cần tiêm phòng trong vùng đang có dịch xảy ra
  • Vaccin phòng phế cầu chỉ dùng cho trẻ bị cắt lách, bệnh hồng cầu liền đồng hợp tử, bị suy giảm miễn dịch tự nhiên mắc phải.

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *