Home / Kiến thức / Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa

Bỏng là chấn thương vô cùng phổ biến trong sinh hoạt thường ngày. Dù có cẩn thận đến đâu thì chúng ta vẫn có khả năng bị bỏng. Thông thường nói đến bỏng đa số mọi người sẽ nghĩ ngay đến lửa và tác động do nhiệt nhưng những mối nguy cơ gây ra tai nạn này còn nhiều hơn thế. Việc nhận diện được các nguy cơ gây bỏng và các cách chữa trị là kiến thức ai cũng cần biết.

Bỏng là gì

Đầu tiên cần phải hiểu bỏng hay phỏng không phải là một chấn thương  tác động trực tiếp lên các tế bào da, hủy hoại mô da đồng thời gây ra những tổn thương cho người bị bỏng. Bỏng là một cấp cứu khá phổ biến với 80% bệnh nhân bị bỏng trên diện hẹp, dưới 20% diện tích da của cơ thể. Tuy nhiên nó có thể gây ra những cấp cứu hàng loạt với những vết thương nặng nề vừa rộng vừa sâu và thậm chí có thể gây tử vong

Bỏng không phải một bệnh mà là một chấn thương dễ gặp trong sinh hoạt. Bỏng tác động trực tiếp lên da gây bỏng rát, tổn thương da nghiêm trọng. Khiến các tế bào mô da bị chết. Tùy vào từng mức độ bỏng mà mức thương tổn trên da khác nhau, có thể chỉ là vết thương nhỏ hoặc nguy hiểm hơn là thương tổn toàn bị da dẫn đến tử vong.

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa - các cấp độ bỏng

Các mức độ bỏng từ nhẹ đến nặng được chia thành 4 cấp độ dựa trên mức độ nghiêm trọng của tổn thương mô, bao gồm:

  • Bỏng độ I: đây là mức độ nhẹ nhất với những ảnh hưởng không lớn khi chúng chỉ ảnh hưởng đến lớp da ngoài cùng, lớp biểu bì da, gây cảm giác nóng rát và đỏ. Ví dụ điển hình là cháy nắng nhẹ;
  • Bỏng độ II: loại này nặng hơn một chút khi chúng ảnh hưởng đến thêm cả lớp hạ bì, gây đau, đỏ và rỉ dịch mụn nước;
  • Bỏng độ III: ở cấp độ này thì mức độ ảnh hưởng đã bao gồm tất cả các lớp da và có thể lan rộng đến xương, cơ và dây chằng bên dưới. Tại các vị trí tổn thương có thể trông nhợt nhạt hoặc cháy đen. Cảm giác đau rát là rất rõ ràng, những vết bỏng độ 3 nếu không được chăm sóc y tế ngay có thể dẫn đến hoại tử, phải cắt bỏ da.  Tuy nhiên có thể bớt lo lắng một chút khi bỏng độ này chưa lan rộng đến các dây thần kinh.
  • Bỏng độ IV: đây là mức độ nghiêm trọng nhất vì bỏng ảnh hưởng từ da đến cơ, xương và có thể cả dây thần kinh. Những vết bỏng độ 4 cứng và cháy đen. Người bị bỏng độ 4 nếu không được chăm sóc y tế ngay có thể dẫn đến tử vong.

Tất cả các loại bỏng dù nặng hay nhẹ đều gây tổn thương cho da – lớp đầu tiên bảo vệ cho cơ thể. Nếu không được sơ cứu đúng cách và điều trị kịp thời có thể gây nhiễm trùng và để lại nhiều biến chứng. (1)

Các nguyên nhân gây bỏng

Có nhiều nguyên nhân gây bỏng nhưng tựu chung lại thì có 4 nguyên nhân chính sau:

Bỏng do nhiệt

Đây là nguyên nhân chủ yếu, chiếm tới 90% nguyên nhân gây bỏng ở trẻ em. Bỏng do nhiệt cũng lại được chia ra thành 2 loại là bỏng khô và bỏng ướt.

  • Bỏng do nhiệt ướt: nghe thì có vẻ xa lạ nhưng đó chính là các chất lỏng được đun nóng, đun sôi như nước, canh, dầu mỡ…bắn vào người. Các bà nội trợ là những người rất thường xuyên đối mặt với nguy cơ này, trẻ em nô đàu trong khu vực bếp cũng là đối tượng chủ yếu bị bỏng ướt.
  • Bỏng do nhiệt khô: lửa, thủy tinh nóng, kim loại lửa (bàn là, bô xe máy)…là nguồn cơn gây bỏng khô. Sự chủ quan của người lớn cùng tính cách tò mò của trẻ kích thích trẻ tiếp xúc với đồ dẫn nhiệt là nguyên nhân chủ yếu gây bỏng khô

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa - bỏng nhiệt

Bỏng do điện

Đây là loại bỏng được cho là nguy hiểm nhất, không chỉ bởi mức độ nguy hiểm của nó gây ra cho bệnh nhân bonge mà còn bởi khả năng lây truyền cho người tiếp xúc với bệnh nhân bỏng khi nguồn điện trong cơ thể vẫn còn. Việc để ổ điện, dây điện ở khắp nơi trong nhà là mối nguy hại tiềm ẩn với tất cả mọi người. Không để ý đến hoạt động của các thiết bị khiến bị hở điện hay sét đánh là những yếu tố nguy cơ có thể gây ra những hậu quả đáng tiếc.

Bỏng hóa chất

Trường hợp này không gặp nhiều trong đời sống, có chăng là các trường hợp bỏng bazo do tôi vôi ở các vùng quê. Tuy nhiên trong phòng thí nghiệm mà đặc biệt là trong môi trường học đường, trong các giờ thực hành hóa học chính là mối đe dọa với sự an toàn của học sinh, sinh viên. Mặc dù đã được khuyến cáo về những tác hại của hóa chất nhưng bản tính nghịch ngợm và tò mò cũng khiến các em phải đối mặt với nguy hiểm này.

Bỏng hóa chất cần phải được sơ cứu lập tức và đúng cách nếu không sẽ có thể lan ra các vùng khác và khiến tổn thương trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều.

Bỏng bức xạ

Loại bỏng này hiếm gặp hơn cả, đa phần gặp ở những bệnh nhân đang tiến hành xạ trị ung thư hoặc x-quang. Tuy độ phổ biến ít nhưng mức độ nguy hiểm thì không hề kém bất cứ loại nào, thậm chí có phần hơn khi khả năng tàn phá cơ thể của nó là rất mạnh mẽ. Chất bức xạ gây bỏng chủ yếu do tia hồng ngoại, rơn gen, laze.

Các cách chữa bỏng bạn nên biết

Bỏng không chỉ gây ra những tổn thương cho sức khỏe, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường mà còn để lại sẹo gây mất thẩm mỹ. Tùy mức độ bỏng nặng hay nhẹ sẽ có những cách sơ cứu và điều trị khác nhau. Dưới đây là một số cách bạn nên tham khảo.

Bỏng nhẹ

Việc đầu tiên là phải giữ vùng da bị bỏng luôn được sạch sẽ. Rửa bằng xà hoặc hoặc nước muối pha loãng trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bỏng, đồng thời giữ vùng da bỏng luôn khô ráo, tránh cọ xát khiến vết bỏng tổn thương nặng hơn. Với những vết thương nhẹ, nhỏ và mức độ ảnh hưởng không lớn, bệnh nhân có thể tự sơ cứu tại nhà mà không cần đến các cơ sở y tế. Bỏng nhẹ thường có thể giải quyết trong vòng một vài ngày đến vài tuần.

  • Sữa nguyên chất: đây là một biện pháp đơn giản có thể làm dịu cảm giác bỏng rát nhưng cần lưu ý là không phải loại sữa nào cũng có thể ngâm phần da bỏng vào. Sữa nguyên chất là lý tưởng nhất, còn không có thể sử dụng những loại có nhiều chất béo, ngâm trong 15 phút hoặc tẩm sữa lên khăn ấm và đắp lên vùng da bỏng để làm dịu vết thương.
  • Kem trị trĩ: cách này nghe có vẻ hơi buồn cười nhưng sự thật là những loại kem trị trĩ có thể giúp chữa lành vết bỏng nhanh hơn, 3 ngày thôi là có thể thấy được cải thiện rõ rệt rồi. Tuy nhiên thì ngoài những người bị trĩ thì chẳng có ai lại dự trữ loại kem này trong nhà cả.

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa - ngâm nước

  • Nước : xả nước lên vết thương và ngâm trong vài phút sẽ làm dịu cơn rát. Tuy nhiên không nên dùng đá lạnh hoặc nước quá lạnh bởi có thể gây ra hiện tượng sốc nhiệt và giết chết các tế bào da ở vùng bị thương.
  • Khoai tây cắt lát, mật ong, lô hội, trộn dầu dừa với nước chanh hay giấm loãng là những mẹo dân gian rất có hiệu quả với những vết bỏng nhẹ. (2)

Bỏng nghiêm trọng:

Với những trường hợp bị bỏng nặng cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay lập tức nhưng trước đó cần dập tắt các nguyên nhân gây bỏng hoặc loại bỏ nó.

  • Nếu quần áo đang chạy, việc dãy giụa hay chạy sẽ càng khiến ngọn lửa bùng phát dữ dội hơn. Quấn người trong một tấm chăn hay áo khoác và cuộn người trên mặt đất là cách tốt nhất để dập lửa trong trường hợp này.
  • Nếu nạn nhân đã ngừng thở, hãy tiến hành các biện pháp hồi sức tim phổi, làm thông thoáng đường thở
  • Che phủ khu vực của các nốt bỏng bằng băng khô vô trùng hoặc bằng tấm vải sạch nhưng tuyệt đối không dùng những loại khăn có sợi có thể dính vào vết bỏng.

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa - sơ cứu bỏng

Khi đến bệnh viện hoặc các cơ sở y tế, một số liệu pháp có thể sử dụng tùy vào tình trạng của bệnh nhân như sau:

  • Liệu pháp nước: gồm các kỹ thuật như liệu pháp sương siêu âm kích thích và làm sạch các mô tổn thương;
  • Truyền dịch: chẳng hạn như truyền tĩnh mạch (IV) các chế phẩm dịch để tránh mất nước và suy cơ quan;
  • Thuốc giảm đau và lo lắng: như morphine và thuốc chống lo âu vì việc điều trị bỏng có thể gây đau đớn;
  • Kem và thuốc mỡ: các sản phẩm bôi này giúp giữ vết thương ẩm, giảm đau, ngăn ngừa nhiễm trùng và làm vết thương mau lành;
  • Gạc: giúp tạo ra môi trường ẩm ướt, chống lại nhiễm trùng và giúp vết bỏng mau lành; Tùy thuộc vào kích thước và vị trí của các nốt bỏng mà các nhân viên y tế sẽ băng vào để bảo vệ làn da, giảm đau và ngăn chặn sự mất nhiệt và độ ẩm thông qua các vết thương.
  • Sử dụng các loại thuốc như kháng sinh tiêm tĩnh mạch hay thuốc uống để giảm đau và ngăn ngừa nhiễm trùng. Thuốc tại chỗ cũng có thể được áp dụng cho khu vực bỏng để giảm đau và tăng tốc độ chữa lành.
  • Vắc xin uốn ván: bạn nên chích ngừa uốn ván sau khi bị bỏng;
  • Ghép da: nếu vết bỏng có diện tích lớn và gây hoại tử thì ghép da có thể được yêu cầu để giúp tái tạo tế bào da, ngăn ngừa sẹo và hỗ trợ quá trình chữa bệnh.
  • Vật lý trị liệu và lao động trị liệu: nếu các khu vực bị bỏng lớn, đặc biệt là vết bỏng đi qua khớp, các bài tập vật lý trị liệu sẽ giúp căng da và làm các khớp linh hoạt. Các bài tập khác có thể cải thiện sức mạnh và sự dẻo dai của cơ bắp. Nếu bạn gặp khó khăn với các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, bác sĩ sẽ đề nghị lao động trị liệu.
  • Phẫu thuật. Trong trường hợp nặng, phẫu thuật có thể cần thiết để đóng vết thương, loại bỏ các mô chết hoặc điều trị các biến chứng liên quan

Những vết bỏng nhẹ có thể chữa lành tại nhà mà không cần đến các cơ sở y tế nhưng những vết bỏng lớn hơn cần được cấp cứu kịp thời để hạn chế việc bị nhiễm trùng và ngăn ngừa vết bỏng lan rộng hơn. (3)

Thói quen sinh hoạt giúp vết bỏng mau lành

Bị bỏng là việc không ai mong muốn nhưng đây là tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào dù chính bạn đã rất cẩn thận. Một số thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày không chỉ khiến cơ thể khỏe mạnh hơn mà còn có thể khiến vết bỏng mau lành hơn mà bạn nên áp dụng là uống nhiều nước. Nếu uống ít nước, vùng da bị bỏng có xu hướng bị khô sẽ khiến vết bỏng rát hơn và mất nhiều thời gian hơn để chữa lành. Ăn nhiều rau, hoa quả và chất xơ cũng là cách để có một làn da khỏe mạnh.

Nhận diện nguy cơ bỏng và cách chữa - uống nhiều nước

Ngoài ra, người bị bỏng nên bổ sung những chất dinh dưỡng sau giúp vết thương nhanh lành:

  • Thực phẩm giàu đạm như thịt gia cầm, trứng, sữa để tiếp tế chất đạm cơ bản cần thiết cho tiến trình tái tạo mô mềm. Người dị ứng với sữa có thể thay thế bằng sữa chua, tàu hũ hay sữa đậu nành.
  • Canh rong biển cũng là thức ăn cần thiết, vì món này có hàm lượng chất đạm dồi dào hơn cả trứng gà lại thêm tiền vitamine A, chất cần thiết hàng đầu cho niêm mạc.
  • Kẽm – đây là hoạt chất có công năng gia tốc tiến trình làm lành vết thương.
  • Axít béo không thể thiếu trong tiến trình tổng hợp mô sợi dưới da.
  • Vitamin C trong các loại quả như cam, bưởi để chống nhiễm trùng.
Ngoài ra cần hạn chế các loại bánh kẹo, đồ ngọt, thịt xông khói bởi đây là lý do gây hao hụt vitamin và chất khoáng đang cần được tích lũy cho phản ứng tái tạo mô mềm. Đặc biệt cần tuyệt đối tránh xa rượu rượu và cà phê bởi chúng không chỉ gây hao hụt vitamine, chất khoáng  mà còn là nguyên nhân dẫn đến rối loạn nước và chất điện giải trong khi vết bỏng đang rất cần nước. (4)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *