Home / Kiến thức / Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì?

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì?

Cụm từ tăng huyết ap từ lâu đã không còn là điều gì quá xa lạ với đại đa số người dân. Đây là một bệnh vô cùng phổ biến và đã trở thành vấn đề xã hội khi gần 30% dân số bị tăng huyết áp. Tăng huyết áp không chỉ có thể gây tử vong mà còn để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và làm tăng gánh nặng cho xã hội. Hiểu biết đúng và đủ về căn bệnh này là góp phần rất lớn làm giảm khả năng hình thành và tác động của bệnh một cách hiệu quả.

Thế nào là tăng huyết áp?

Tổ chức y tế thế giới (WHO) và hội tăng huyết áp quốc tế (ISH) đã thống nhất gọi là tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg.

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì? tăng huyết áp là gì

Ngoài ra có một số định nghĩa khác về các loại tăng huyết áp như:

  • Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: đối với người cao tuổi, huyết áp tâm thu có xu hướng tăng và huyết áp tâm trương có xu hướng giảm đi. Khi huyết áp tâm thu (HATT) lớn hơn hoặc bằng 14- mmHg và huyết áp tâm trương (HATTr) nhỏ hơn 90 mmHg, bệnh nhân được gọi là HATT đơn độc. Sự gia tăng trị số HATT và huyết áp hiệu số là một yếu tố tiên lượng các biến cố tim mạch.
  • Tăng HATTr đơn độc: bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trung niên, tăng huyết áp tâm trương là khi HATT <140 và HATTr lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg.
  • Tăng huyết áp “áo choàng trắng” và hiệu ứng “áo choàng trắng”: là tình trạng huyết áp tăng cao khi đo ở cơ sở y tế trong khi huyết áp hàng ngày hoặc đo trong 24 giờ lại hoàn toàn bình thường. Đây có thể là khởi đầu của tăng huyết áp thực sự và làm tăng nguy cơ về bệnh tim mạch. Chẩn đoán tăng huyết áp áo choàng trắng khi huyết áp đo nhiều lần lớn hơn hoặc bằng 140/90 mmHg trong khi huyết áp 24 giờ trung bình <125/80 mmHG.
  • Tăng huyết áp ẩn giấu: là tình trạng huyết áp bình thường khi đo tại cơ sở y tế nhưng khi đo ở những nơi khác lại cao. Bệnh chỉ được phát hiện nếu được đo trong vòng 24 giờ.
  • Tăng huyết áp giả tạo: ở một số bệnh nhân lớn tuổi, các động mạch ngoại biên rất cứng nên băng quấn phải có áp lực cao để nén lại. Dấu hiệu Osler dương tính: động mạch cánh tay hay động mạch quay vẫn bắt được dù băng quấn đã được bơm căng.

Làm sao để biết bị tăng huyết áp?

Tăng huyết áp không phải là bệnh có thể dễ dàng nhận biết bởi chúng không có các dấu hiệu đặc trưng. Hơn nữa đối với mỗi người khác nhau thù các biểu hiện nặng nhẹ cũng lại khác nhau nên một người bình thường khó có thể biết huyết áp của mình có cao không, chính vì thế mà tăng huyết áp còn được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”. Tuy nhiên một số dấu hiệu sau có thể là yếu tố cảnh báo đến bạn:

  •  Choáng váng, nhức đầu.
  •  Mất ngủ, chóng mặt, ù tai, hoa mắt.
  •  Khó thở, đau tức ngực, hồi hộp.
  •  Đỏ mặt, buồn nôn. (1)

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì? choáng váng

Khi thấy các dấu hiệu kể trên cần đến ngay các cơ sở y tế để kiểm tra. Để có thể chẩn đoán chính xác có phải bị tăng huyết áp hay không các bác sĩ ngoài việc tiến hành kiểm tra huyết áp bằng các máy đo nhiều lần (ít nhất 2 lần cách nhau ít nhất 5 phút), trong các tư thế khác nhau (nằm, ngồi, đứng) và đo huyết áp tứ chi. Đồng thời cần tiến hành khai thác bệnh sử gia đình về các bệnh lý liên quan đến tim mạch, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh máu ngoại biên; tiền sử bệnh lý tim mạch như bệnh mạch vành, suy tim, tai biến mạch máu não của người bệnh hay các thói quen sinh hoạt, lối sống như béo phì, hút thuốc lá, uống rượu, chế độ ăn và các vấn đề về tâm lý.

Nguyên nhân tăng huyết áp

Đa số tăng huyết áp ở người lớn là không có căn nguyên (hay tăng huyết áp nguyên phát), tình trạng này chiếm tới 95%. Tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ có thể tác động đến việc hình thành bệnh, được chia ra như sau:

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

  • Tuổi tác: tuổi tác càng cao thì nguy cơ mắc tăng huyết áp càng lớn. Nam giới trên 55 tuổi và nữ giới trên 65 tuổi là những người đặc biệt có nguy cơ phát triển dạng tăng huyết áp tâm thu.

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì? tuổi già

  • Di truyền: Nếu trong gia đình có người bị tăng huyết áp, bạn có lý do để lo lắng. Vấn đề này sẽ gây ra tác động không nhỏ đối với sức khỏe của những người trẻ tuổi.
  • Giới tính: một điều đặc biệt là nam giới có nguy cơ bị cao huyết áp cao hơn nữ giới do thói quen uống rượu bia, các chất kích thích và đồ uống có cồn. Nhưng điều đó không có nghĩa là phụ nữ có thể yên tâm.
  • Chủng tộc

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

  • Chế độ ăn nhiều muối: ăn mặn không hề tốt cho sức khỏe, trong khi một số người lại nhạy cảm với loại gia vị này khiến việc ăn mặn sẽ làm huyết áp tăng cao. Nguy cơ này hoàn toàn có thể giảm thiểu nếu giảm lượng muối trong mỗi bữa ăn và hạn chế đồ ăn nhanh.
  • Béo phì: khi chỉ số BMI > 23 kg/m2, hãy cẩn thận nguy cơ tăng huyết áp. Tích tụ mỡ ở quanh bụng, đùi và hông cũng làm tăng nguy cơ này.

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì? béo phì

  • Sử dụng rượu bia: rượu bia không hề tốt cho sức khỏe nếu lạm dụng nó. Nếu mới chỉ uống 2 ly rượu khiến người bạn mềm nhũn và quên hết trời trăng thì hãy dừng ngay việc này lại nhằm giữa huyết áp ở mức bình thường.
  • Ít vận động thể chất: lười biếng không chỉ khiến tăng nguy cơ phát phì mà còn có thể khiến huyết áp tăng
  • Căng thẳng, áp lực công việc dẫn đến stress cũng có thể làm thay đổi huyết áp theo chiều hướng tiêu cực.
  • Đái tháo đường hay rối loạn lipid máu cũng có thể khiến huyết áp tăng. (2)

Những tổn thương do tăng huyết áp gây ra

  • Tổn thương ở tim: các tổn thương ở tim do tăng huyết áp gây ta bao gồm phì đại thất trái, suy tim, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim. Chụp X-quang tim phổi có thể thấy phì đại buồng tim, giãn quai động mạch chủ, ứ huyết phổi.
  • Tổn thương mạch máu: siêu âm Doppler mạch cảnh có thể thấy động mạch cảnh xơ vữa nhiều với lớp nội trung mạc dày. Bệnh nhân tăng huyết áp cũng có thể có xơ vữa hệ thống mạch ngoại biên gây hẹp tắc động mạch. Phình động mạch chủ và tách thành động mạch chủ thường gặp ở những đối tượng tăng huyết áp lâu ngày không được kiểm soát.
  • Tổn thương thận: creatinin huyết thanh tăng mức lọc cầu thận giảm, có protein niệu hay albumin niệu vi thể. Bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị có thể tăng urat thận – dấu hiệu cho thấy có xơ hóa cầu thận.
  • Tổn thương não: nhồi máu não, xuất huyết não, xuất huyết dưới nhện.
  • Tổn thương võng mạc: các tổn thương có thể xuất hiện tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh như

+ Giai đoạn 1: các mạch máu có thành sáng bóng

+ Giai đoạn 2: các mạch máu co nhỏ, dấu hiệu bắt chéo động mạch, tĩnh mạch

+ Giai đoạn 3:  xuất huyết, xuất tiết võng mạc

+ Giai đoạn 4: vừa có xuất huyết, xuất tiết võng mạc vừa có phù gia thị.

Điều trị tăng huyết áp thế nào

Mục đích và nguyên tắc điều trị cao huyết áp là đưa huyết áp về dưới 140/90 mmHg, nếu có đái tháo đường hay bệnh thận mạn thì phải dưới 130/80 mmHg. Tăng huyết áp phải điều trị lâu dài và suốt đời. Khi điều trị các bác sĩ cần cân nhắc các bệnh kèm theo và tình trạng của từng bệnh nhân để đưa ra chế độ dùng thuốc thích hợp. Huyết áp cũng cần được hạ từ từ để tránh những biến chứng khiến các cơ quan khác bị thiếu máu.

Bệnh cần được điều trị bắt đầu từ việc thay đổi lối sống một cách lành mạnh hơn

  • Nếu thừa cân phải tiến hành giảm cân
  • Hạn chế rượu bia vầ các chất kích thích
  • Tăng cường tập luyện thể dục thể thao, đều đặn mỗi ngày 30-45 phút
  • Chế độ ăn nhiều hoa quả và rau xanh, bổ sung canxi, kali, ăn ít muối và các chất béo. Hạn chế mỡ động vật bão hòa và các thực phẩm chứa nhiều cholesterol.
  • Bỏ thuốc lá

Tăng huyết áp gây ra những hậu quả gì? bỏ thuốc lá

Các bệnh nhân tăng huyết áp được chia thành ba nhóm

  • Nhóm A: bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ hoặc tăng huyết áp chưa có tổn thương cơ quan đích, không có các nguy cơ bệnh mạch vành và không có các biểu hiện tim mạch
  • Nhóm B: là những bệnh nhân tăng huyết áp chưa có tổn thương cơ quan đích và không có bệnh tim mạch kèm theo nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch mà không phải đái tháo đường.
  • Nhóm C: là nhóm có bệnh tim mạch kèm theo theo hoặc có tổn thương cơ quan đích hoặc có đái tháo đường, có thể hoặc không kèm theo yếu tố nguy cơ tim mạch.

Đối với bệnh nhân nhóm A và B, việc điều trị thường bắt đầu bằng việc điều chỉnh lối sống. Ở giai đoạn 1, bệnh nhân nhóm A tiếp tục điều chỉnh lối sống trong vòng 12 tháng, với nhóm B là 6 tháng, nếu không hiệu quả thì mới chuyển sang điều trị thuốc trong các giai đoạn sau. Riêng bệnh nhân nhóm C được chỉ định dùng thuốc ngay từ đầu. Việc dùng thuốc như thế nào và liều lượng ra sao cần tuân thủ tuyệt đối theo chỉ dẫn của các bác sĩ điều trị.

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *