Home / Kiến thức / Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván

Uốn ván là một trong những nguyên nhân hàng đầu gay tử vong, không chỉ ở những vùng nông thôn, nghèo đói mà còn ở cả những nước châu Âu, những nước phát triển. Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới WHO hì mỗi năm có khoảng 500.000 trẻ em bị chết vì căn bệnh này ở các nước đang phát triển. Tỉ lệ tử vong do uốn ván gây ra dao động từ 10 đến 90%, đặc biệt là trẻ nhỏ và những người có tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm và không giới hạn đối tượng, vì thế tìm hiểu về căn bệnh này là kiến thức không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, bài viết này sẽ giúp bạn điều đó.

Uốn ván là gì?

Uốn ván là bệnh nhiễm độc – nhiễm trùng do trực khuẩn Clostridium tetani (còn gọi là trực khuẩn Nicolaier) gây nên.  Đây là loại trực khuẩn kỵ khí, gram dương, dài từ 3-4mm và có 2 dạng là dạng hoạt động phát triển và dạng nha bào. Nguồn bệnh chủ yếu là đất, phân người và súc vật có chứa nha bào uốn ván.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - uốn ván là gì

Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương dưới dạng nha bào, phát triển tại vết thương trong điều kiện yếm khí. Tại đây vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố có ái tính với hệ thần kinh, lan truyền trong cơ thể theo đường thần kinh, đường máu, bạch huyết và xâm nhập vào các sinap thần kinh cơ và trung tâm thần kinh thực vật.

Cơ chế bệnh sinh

Điều kiện để bệnh uốn ván phát sinh là do

  • Không được tiêm vaccin đầy đủ hoặc tiêm không đúng cách.
  • Có vết thương ở da và niêm mạc bị nhiễm nha bào uốn ván
  • Có tình trạng thiếu oxy ở vết thương do miệng vết thương bịt kín, tổ chức bị hoại tử nhiều…

Bệnh không có miễn dịch tự nhiên nhưng cũng không có khả năng bùng phát thành dịch lớn. Bệnh hay gặp ở các nước nghèo, kém phát triển và trong điều kiện vệ sinh cũng như tiêm phòng kém.

Độc tố uốn ván từ vết thương xâm nhập lên thần kinh trung ương bằng hai con đường là đường thần kinh hướng tâm và đường máu. Sau khi gắn độc tố vào các tế bào thần kinh ở các trung tâm cận động, tổ chức lưới, cầu não, hành não và tủy sống rồi chuyển qua tới các sinap tới tận cùng tiền sinpap của các neuron, ức chế và ngăn cản sự giải phóng ra các chất trung gian hóa học glycin, GABA có tác dụng ức chế hoạt động của các neuron giao cảm tiền hạch hoạt động tăng lên làm nồng độ catecholamn trong máu dẫn đến các triệu chứng giao cảm và hệ thần kinh thực vật. Ngoài ra độc tố uốn ván từ vết thương vào máu và lan rộng tới các mút tận cùng thần kinh.

Diễn tiến bệnh uốn ván

Bệnh cũng trải qua 4 giai đoạn như các bệnh lý bình thường khác. Thời kỳ nung bệnh kéo dài trung bình từ 6 đến 12 ngày là khoảng thời gian từ khi có vết thương cho tới khi bị cứng hàm với các triệu chứng chủ yếu là đau nhức và co giật các thớ cơ quanh vết thương.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - cứng hàm

Cứng hàm chính là triệu chứng cảnh báo bệnh uốn ván đã bước vào giai đoạn khởi phát khiến người bệnh khó há miệng, khó nhai, đau hai bên quai hàm, dần dần khiến hàm càn cứng lại và răng khít chặt. Khi đi khám sẽ thấy hia bên cơ nhai có hiện tượng co cứng, đè lưỡi hàm càng khít lại và có thể khiến mặt bị biến dạng. Từ khi cứng hàm đến khi xuất hiện cơn co giật đầu tiên trung bình kéo dài từ 2-3 ngày.

Thời kỳ toàn phát của uốn ván có 3 biểu hiện chính là

Co cứng cơ

  • Co cứng cơ hàm, sau đó co cứng các cơ theo thứ tự đầu, mặt, thân mình và tứ chi các cơ co cứng liên tục ngày càng thấy rõ.
  • Co cứng cơ vùng mặt khiến khuôn mặt bệnh nhân nhìn như cười mếu hay nhăn nhó đau khổ.
  • Cơ cứng gáy, co cứng các cơ ở thân mình tùy theo co cứng nhóm cơ gấp hay cơ dưỡi mà bệnh nhân có các tư thế nằm khác nhau

+ Cơ dưỡi co cứng khiến bệnh nhân ưỡn người ra sau, cổ ngửa.

+ Cơ gấp co cứng khiến người bệnh nằm lưng cong như con tôm

+ Cơ cứng đồng đều hai nhóm thì bệnh nhân nằm tư thế uốn ván thẳng

  • Co cứng các cơ ở bụng, bụng cứng như gỗ.
  • Co cứng các cơ chi dưới hai chân duỗi thẳng, cơ chi trên tay co lại, khép vào mình.
  • Các cơ hô hấp co cứng mạnh khiến bệnh nhân có dấu hiệu chẹn ngược như các cơ liên sườn không di động, suy hô hấp, ứ đọng đờm rãi.

Cơn co giật

Trên nền co cứng sẽ xuất hiện các cơn co giật với đặc điểm co giật toàn thân và xuất hiện tự nhiên hoặc sau các kích thích ánh sáng, tiếng động, thăm khám, tiêm chích, hút đờm dãi…hoặc có thể tự phát. Những cơn co thắt thanh quản gây ngạt thở có thể xuất hiện trong cơn co giật mà bệnh nhân vẫn tỉnh táo hoàn toàn.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - co giật

Rối loạn cơ năng

  • Nuốt khó, không nuốt được nước bọt, phải khạc. Khi khạc không được sẽ có biểu hiện xuất tiết nhiều, ứ động đờm dãi trong phổi gây bội nhiễm cơ quan này.
  • Khó thở do co thắt hòng và co cứng cơ hô hấp
  • Đau vùng thượng ị do cơ bụng co cứng
  • Bí đại tiểu tiện do co cứng các cơ thắt hậu môn, bàng quang
  • Rối loạn thân nhiệt, sốt cao 39-40 độ, da mặt lúc đỏ lúc tái,, mồ hôi vã ra đầm đìa, mạch nhanh, huyết áp tăng từng cơn hoặc liên tục, tăng tiết đờm dãi.

Các thể lâm sàng của uốn ván

Ngoài các biểu hiện chung của bệnh uốn ván phổ biến thường gặp thì còn có một số thể lâm sàng khác của căn bệnh này vời những triệu chứng có đôi chút khác biệt và ở những đối tượng cụ thể như:

  • Uốn ván thể nhẹ: cứng hàm đơn thuần, không co giật, khỏi nhanh. Gặp ở người tiêm phòng không đầy đủ hoặc tiêm phòng đã lâu.
  • Uốn ván nội tạng: Vết thương ở ruột non, đại tràng, nạo phá thai chui, đẻ, sảy thai. Diễn biến nguy kịch, tử vong cao.
  • Uốn ván rốn: nhiễm khuẩn rốn khi dụng cụ cắt không đảm bảo vô trùng hoặc đẻ rơi. Thời gian nung bệnh từ 7 đến 10 ngày và tối thiểu là 3 ngày. Trẻ bỏ bú, nhắm mắt, khóc bé, co giật liên tục, rốn ướt, rụng sớm. Tiên lượng nặng, tỉ lệ tử vong cao do suy hô hấp.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - uốn ván trẻ sơ sinh

  • Uốn ván đầu: do vết thương ở vùng đầu, mặt, cổ. Có 2 thể có liệt và không liệt.

+ Với thể không liệt: xuất hiện những cơn co thắt họng, sau đó mới cứng hàm

+ Với thể liệt: uốn ván đầu có liệt mặt ngoại biên, do vết thương ở vùng mặt, thời gian nung bệnh ngắn, trung bình 9 ngày, có biểu hiện đau vùng thái dương hàm. Cứng hàm là biểu hiện đầu tiên, rồi đến liệt mặt nhanh ở thể nặng, thương liệt cùng bên với vết thương hoặc liệt cả 2 bên nếu vết thương ở sống mũi. Uốn ván khỏi thì liệt cũng khỏi hoàn toàn. Uốn vàn đầu có liệt mặt có liên quan tới các vết thương ở vùng mi, hố mắt, lông mày hay gây liệt dây III. Khi uốn ván khỏi thì liệt cũng khỏi hoàn toàn.

Biến chứng và di chứng của uốn ván

Uốn ván có thể để lại di chứng trồi xương sống, gù lưng, thậm chí gãy cột sống, cứng gân khớp. Những bệnh nhân mở khí quản có thể để lại sẹo hẹp khí quản hoặc canyn quá lâu khí quản không liền được. Bệnh có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như:

  • Tim mạch: ngừng tim đột ngột, có thể do nhồi máu cơ tim, tắc mạch phổi hay trụy tim mạch.
  • Hô hấp: đột ngột ngừng thở do co thắt thanh quản, trong cơn co cứng toàn thân gây nên suy hô hấp cần phải mở khí quản cấp. Từ từ do ứ đọng đờm dãi ngày càng tăng, xẹp phế nang do co thắt phế quản, bội nhiễm phổi.
  • Bội nhiễm: viêm phổi, nhiễm khuẩn vết mở khí quản, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn tiết niệu do đặt sonde bàng quang.
  • Huyết thanh kháng độc tố uốn ván (SAT): phản ứng choáng (choáng phản vệ) nên cần phải thử phản ứng trước khi tiêm.

Điều trị uốn ván như thế nào

Nguyên tắc điều trị uốn ván trước hết phải bắt đầu từ việc xử trí các vết thương, dùng kháng sinh, sau đến sự chăm sóc của hộ lý và dinh dưỡng tốt kết hợp với các loại thuốc điều trụ giúp cho người bệnh mau phục hồi. Việc điều trị cụ thể bệnh uốn ván thường diễn ra như sau:

  • Để bệnh nhân nằm nơi yên tĩnh, tránh ánh sáng, kích thích tiếng động, hạn chế khám…
  • Vệ sinh răng miệng hàng ngày
  • Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp tim, nhịp thở, cơn giật, mồ hôi, nước tiểu…hàng ngày để kịp thời phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng.
  • Đặt sonde dạ dày đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ protid, lypid, glucid và các vitamin. Chăm sóc ống sonde
  • Chống loét bằng cách nằm đệm nước
  • Xử trí vết thương bằng cách mở rộng miệng vết thương, cắt lọc tổ chức hoại tử lấy dị vật, rửa bằng nước oxy già, không khâu kín miệng vết thương.
  • Kết hợp sử dụng kháng sinh toàn thân theo chỉ định của bác sĩ. Trường hợp bị uốn ván do nạo phá thai thì không chỉ định cắt tử cung trừ khi vỡ, thủng… Nếu sót nhau thai có thể nạo lại và cho kháng sinh liều cao.
  • Sử dụng các loại thuốc điều trị như:

+ Huyết thanh kháng độc tố uốn ván SAT: liều thấp 5000-10000 đơn vị, tối đa 20.000 đơn vị tiêm bắp 1 lần duy nhất, kiểm tra phản ứng trước khi tiêm.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - tiêm huyết thanh

+ Vaccin giải độc tố uốn ván Anatoxin Tetanique: tiêm dưới da 1mlx3 lần, cách nhau 10-15 ngày, say 1 năm tiêm nhắc lại 1ml

+ Sử dụng kháng sinh tùy theo vết thương và tùy theo tình trạng bệnh nhân mà phối hợp các loại kháng sinh với nhau, nhất là khi ở khí quản.

+ Chống co cứng và giật cứng: dùng diazepam đường uống hoặc qua đường tĩnh mạch liều nhẹ tùy theo mức độ co cứng, co giật và đáp ứng với thuốc an thần của bệnh nhân.

+ Bồi phụ nước điện giải và điều trị biến chứng. Chống nhiễm trùng toan bằng dung dịch Ringerlactat, glucose 5%, NaHCO3 1,4%…kết hợp các thuốc trợ lực, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân Moriamin, vitamin nhóm B,C. Chống xuất huyết tiêu hóa dùng giảm tiết acid Pantolog 40mgx 1 ống/ngày hoặc zantac 50mg x 1 ống/ngày.

+ Đảm bảo thông khí, chống suy hô hấp: hút đờm dãi, thở oxy ngắt quãng nặng hơn mở khí quản, thở máy.

+ Dùng Heparin chống rối loạn đông máu

Cách phòng bệnh uốn ván hiệu quả

Ngay khi có các vết thương cần

  • Cát lọc, rửa sạch, rạch rộng để hở vết thương, tuyệt đối không được băng kín
  • Tiêm ngay SAT 1500 đơn vị (thử phản ứng trước khi tiêm). Nếu bệnh nhân đã tiêm vaccin trong vòng 3 năm trở lại thì tiêm nhắc lại một mũi, nếu chưa tiêm bao giờ hoặc đã tiêm trên 3 năm cần tiêm đủ 3 mũi.

Tất cả những điều cần biết về bệnh uốn ván - rửa vết thương

Đề phòng uốn ván rốn cần

  • Quản lý thai nghén, tránh đẻ rơi
  • Vô trùng tuyệt đối khi đỡ đẻ, cắt rốn
  • Tiêm phòng vaccin uốn ván cho sản phụ trong 3 tháng cuối để có miễn dịch chủ động từ mẹ sang con
  • Tiêm giải độc tố uốn ván nhắc lại cho trẻ sơ sinh.

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *