Home / Kiến thức / Trầm cảm – căn bệnh của thế kỉ 21

Trầm cảm – căn bệnh của thế kỉ 21

Trầm cảm hiện nay đang là vấn đề thời sự khi số người mắc phải căn bệnh này ngày càng gia tăng và hậu quả nó để lại vô cùng nặng nề. Theo dự báo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì trầm cảm sẽ là nguyên nhân thứ 2 khiến con người mất khả năng lao động, chỉ sau các bệnh về tim mạch. Một con số đáng để suy ngẫm.

Trầm cảm là gì?

Trầm cảm là một chứng rối loạn tâm thần khiến người bệnh lúc nào cũng có cảm giác buồn và mất hứng thú kéo dài dai dẳng. Chứng trầm cảm sẽ khiến cách suy nghĩ, lối hành xử trở nên tiêu cực và có thể dẫn đến những vấn đề đa dạng về tinh thần và thể chất. Nếu nỗi buồn kéo dài trong thời gian dài nó sẽ khiến người bệnh  khó làm việc hoặc vui vẻ với gia đình, bạn bè, thậm chí trong những trường hợp nghiêm trọng, chứng trầm cảm có thể dẫn bạn đến ý định tự tử.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21(1)

Thuât ngữ trầm cảm hay sầu uất “Mélancholie” được Hippocrate (460-377 TCN) dùng để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loạn khí sắc. Năm 1686 Bonet mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng cảm-sầu uất “Maniaco-Mélancoliants”. Sau đó E. Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần bộ phận – một thể trầm cảm và gọi là cơn hoang tưởng buồn rầu. Đến năm 1882, K.Kahlbaum dùng “bệnh khí sắc chu kỳ” để mô tả hưng cảm, trầm cảm như các giai đoạn của cùng một bệnh. Trước những năm 80 của thế kỷ XX, trầm cảm được mô tả như một giai đoạn của bệnh lưỡng cực. Ngày nay, với mức độ ảnh hưởng và hậu quả nó đẻ lại,  trầm cảm đã được tổ chức y tế thế giới phân loại chi tiết và có mã số riêng.

Tình trạng trầm cảm xảy ra ở nữ giới nhiều hơn so với nam giới. Ba nhóm tuổi có tỉ lệ mắc trầm cảm cao hơn cả là học sinh và thanh thiếu niên, phụ nữ trước và sau sinh, người cao tuổi.

Những con số thống kê về bệnh trầm cảm

  • Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố trong khoảng 10 năm qua (2007-2017) tỷ lệ trầm cảm trên toàn cầu trong đó có Việt Nam tăng 18% và ảnh hưởng đến hơn 322 triệu người.
  • WHO ước tính năm 2015 Việt Nam có khoảng 3,6 triệu người bị rối loạn trầm cảm, chiếm 4% dân số.
  • 24,3% người Việt độ tuổi 25-55 và 47% người trên 55 tuổi bị trầm cảm, theo số liệu thống kê năm 2015.
  • Nghiên cứu cho thấy trên 50% số ca tự tử có rối loạn trầm cảm.
  • Trên thế giới mỗi năm có gần 800.000 người chết vì tự tử và đây là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở độ tuổi từ 15 – 29. Phần lớn bệnh nhân tự tử do cảm thấy vô dụng, tội lỗi, không đáng sống. Và đa số bệnh nhân trầm cảm có khuynh hướng trở thành mãn tính, tái diễn. (1)

Nguyên nhân của bệnh trầm cảm

Yếu tố di truyền
Rất ít người cho rằng trầm cảm là do di truyền, thậm chí đã có những bằng chứng để phủ định điều đó. Tuy nhiên năm 1996, McGuffin và cộng sự đã tìm ra rằng 46% các cặp sinh đôi cùng trứng cùng bị trầm cảm, trong khi ở các cặp sinh đôi khác trứng, tỉ lệ này là 20%. Một số người cho rằng nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì sau khi sinh con cái có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn bình thường.

Giới tính
Không hẳn giới tính là nguyên nhân cho bệnh trầm cảm chỉ là các con số thống kê chỉ ra rằng tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với đàn ông. Lý do là bởi phụ nữ thường phải gánh những công việc nhiều hơn, ngoài việc vẫn phải ra ngoài lao động và kiếm sống họ còn phải kiêm thêm nhiều trách nhiệm với con cái, gia đình 2 bên trong khi các ông chồng luôn cho rằng mình là trụ cột kinh tế nên có quyền vui chơi sau giờ làm, phó mặc mọi thứ cho vợ. Những áp lực đè nén cùng sự vô tâm của chồng là lý do khiến phụ nữ dễ bị trầm cảm.
Sang chấn tâm lý
Những áp lực trong công việc và cuộc sống kéo dài hay những cú sốc lớn, đột ngột và liên tiếp xảy đến mà không có ai chia sẻ sẽ khiến con người ta dễ mất cân bằng tâm lý. Không phải ngẫu nhiên mà số người mắc trầm cảm ở thế kỉ này lại đang tăng một cách chóng mặt.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21(2)

Khi quá đau buồn, cá nhân có thể tự thu mình lại như là một cơ chế phòng vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn. Phản ứng như thế, nhìn chung, chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng có thể trở thành bệnh lí nếu cá nhân tiếp tục trong một thời gian dài, dẫn đến tự căm ghét bản thân và trầm cảm. Những người như thế, trong suốt cuộc đời mình, sẽ còn phụ thuộc vào tình yêu thương và sự chấp nhận của người khác, họ còn rất nhạy cảm với những sự kiện gây ra lo lắng hoặc những trải nghiệm mất mát.

Do ảnh hưởng bởi một số bệnh
Các bệnh như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, sa sút trí tuệ… cũng sẽ là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm. Những người mắc các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, đột quỵ, bệnh tim… có nguy cơ cao mắc chứng trầm cảm nếu có tâm lý buông xuôi và mặc cảm về bệnh tật, cho rằng mình là gánh nặng với gia đình và xã hội.
Yếu tố nội tiết: Sự thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sẩy thai, giai đoạn sau sinh, tiền mãn kinh hay mãn kinh cũng chính là nguyên nhân bệnh trầm cảm ở phụ nữ.
Mất ngủ thường xuyên
Giấc ngủ rất quan trọng khi đó là thời gian để não bộ nghỉ ngơi và nạp lại năng lượng sau một ngày dài. Khi mọi người chìm vào giấc ngủ còn mình vẫn tỉnh như sáo khiến bộ não tiếp tục bị căng thẳng. Ảnh hưởng của việc thiếu ngủ của mỗi người là không giống nhau. Với những người có khuynh hướng tiêu cực có thể nhìn thấy càng ngày càng nhiều suy nghĩ tiêu cực và bị chúng mê hoặc do mất ngủ bởi não có xu hướng tập trung tới những suy nghĩ tiêu cực rồi lặp đi lặp lại.

Giáo sư giáo sư tâm lý học lâm sàng, Đại học Oxford và Oxford Health NHS Foundation Trust, Vương Quốc Anh – Freeman nói: “Ngủ ít gây ra rắc rối cho tâm trí của bạn, nó tác động cả về những gì bạn nghĩ và cả cách bạn nghĩ“. Đó là lý do mà suy nghĩ của bạn trở sẽ nên lệch lạc, chậm chạp và sợ hãi rồi dẫn đến trầm cảm nếu bị mất ngủ lâu ngày.
Tâm lý bi quan
Luôn nghiêm trọng há mọi vấn đề rồi lo lắng một cách vô lý khiến những người bi quan luôn sống trong lo sợ. Nghiên cứu cho thấy những người có tính cách như vậy có nhiều khả năng trở lên bị trầm cảm hơn những người sống lạc quan, vui vẻ và ưa sự chia sẻ.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21 tràm cảm ở trẻ em

Yếu tố văn hoá – xã hội
Những sang chấn tâm lí – xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm. Thống kê cho thấy tỉ lệ trầm cảm tương đối cao ở người nghèo, dân tộc thiểu số và những người có nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi. Nghèo thì bị ghét, đói rét thì bị khinh – chính sự coi thường của số đông với những người nghèo, đặc biệt là trẻ em trong độ tuổi đến trường khiến họ tự ti và có những suy nghĩ mặc cảm, thu mình lại. Những sang chấn tâm lý – xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm. Những đứa trẻ con nhà giàu có hơn nếu sống trong nhung lụa từ bé và không được giáo dục đầy đủ thì sẽ dễ dàng buông những lời xỉa xói, cái nhìn khinh miệt hay thậm chí tẩy chay, xa lánh khiến tăng nguy cơ trầm cảm cho bạn học.(2)

Triệu chứng của người bị trầm cảm

Những triệu chứng điển hình của người bị trầm cảm là:

  • Khí sắc trầm cảm: vẻ mặt luôn thể hiện sự buồn bã, lo âu, đau khổ hay nỗi buồn vô hạn, đuối sức trước cuộc sống và luôn thấy một màu ảm đạm cho cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Những người thường hay phản ứng quá mức với những vấn đề bình thường. Hay suy ngẫm, lo lắng, thậm chí sợ sệt, rụt rừ, thiếu quyết đoán trong mọi quyết định.
  • Rối loạn nhận thức: người trầm cảm thường bị hạn chế với những việc cần tập trung sự chú ý và hay suy nghĩ rồi tự ân hận về những chi tiết không nghiêm trọng.
  • Các triệu chứng tâm thần vận động như: giả niềm tin trong cuộc sống, luôn phàn nàn, mất nghị lực, nhanh chóng bị kiệt sức khi làm điều gì đó. Người bệnh thường ít vận động, ít giao tiếp, thích ngồi im ở những nơi kín đáo.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21 lo âu

  • Các biểu hiện lo âu: thường xuyên có những cảm giác lo lắng, sợ hãi cho tương lai, luôn cảm thấ nguy hiểm rình rập. Lo âu có thể gặp ở 85% người bị trầm cảm với biểu hiện thường gặp là:

+ Rối loạn sinh dục tiết niệu: giao hợp đau, bí đái, cảm giác nóng khi đi tiểu, đau tầng sinh môn, mất kinh hoặc loạn kinh.

+ Rối loạn tiêu hóa: ỉa chảy, táo bón dai dẳng, chán ăn, buồn nôn, đầy hơi.

  • Các triệu chứng cơ thể như giảm cân nhanh chóng (có thể mất 10 kg chỉ trong vài tuần, thường gặp ở nữ), rối loạn giấc ngủ (mất ngủ, hay tỉnh giấc giữa đêm, khó ngủ lại..), rối loạn tình dục…
  • Có các hành vi tự sát và các rối loạn hành vi khác.

Điều trị trầm cảm thế nào?

Điều trị trầm cảm phải điều trị một cách toàn diện và phải tuân theo những nguyên tắc chung sau:

  • Sử dụng thuốc chống trầm cảm như Escitalopram, Paroxetine, Sertraline, Fluoxetine và Citalopram, Venlafaxine, Duloxeton hay Bupropion. Các loại thuốc chống trầm cảm này có thể có các tác dụng phụ như: đau đầu, buồn nôn; khó ngủ và căng thẳng; kích động hoặc bồn chồn; gây ra các vấn đề về tình dục vì thế cần tuân thủ đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ. Thời gian sử dụng thuốc thường từ 1-3 tháng nhằm thanh toán triệu chứng, 4-6 tháng sau khi hết triệu chứng cơ bản.
  • Điều trị kết hợp liệu pháp hóa dược và liệu pháp tâm lý: các cuộc đối thoại để tìm ra khúc mắc bên trong của bệnh nhân, phần nào thay đổi suy nghĩ và có những cách cư xử mới, thay đổi các thói quen xấu từng góp phần gây nên bệnh trầm cảm. Liệu pháp này còn giúp bạn thấu hiểu và vượt qua những khó khăn trong các mối quan hệ hoặc những tình huống khiến bạn bị trầm cảm hoặc làm cho bệnh trầm trọng hơn.
  • Các liệu pháp điều trị toàn diện: có chế độ dinh dưỡng phù hợp, uống thuốc đều đặn, đủ liều và kết hợp tập thể dục.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21 điều trị tâm lý

Ngoài ra có một biện pháp điều trị sẽ được tính đến trong trường hợp bệnh trầm cảm nghiêm trọng và không thể chữa trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý là liệu pháp sốc điện. Tuy nhiên liệu pháp này có thể gây ra các tác dụng phụ như lú lẫn hoặc mất trí nhớ, thường là chỉ trong khoảng thời gian ngắn hạn. (3)

Làm sao để phòng ngừa căn bệnh này?

Trầm cảm hoàn toàn có thể phòng tránh nếu bạn có một thái độ sống tích cực và những suy nghĩ lạc quan. Mặc dù nhiều người biết điều đó nhưng không phải ai cũng làm được.Rèn luyện 5 thói quen này sẽ giúp ngăn chặn trầm cảm hiệu quả.

Vận động thường xuyên

Nhàn cư vi bất thiện, câu nói này đúng với đa số các trường hợp trầm cảm. Ít vận động khiến não bộ trở nên xơ cứng và ngày càng nhận được ít yếu tố kích thích, vì thế stress và tâm trạng bất an sẽ tích tụ và biến thành các triệu chứng trầm cảm. Người thường xuyên ngồi một chỗ khiến hình thành tâm lý mệt mỏi, chán nản, ngại giao tiếp, sức ì lớn và đó là lý do hình thành trầm cảm.

Trầm cảm - căn bệnh của thế kỉ 21 đi bộ

Đi du lịch

Việc đến một vùng đất mới, khám phá những điều thú vị không chỉ giúp thư giãn, thoải mái đầu óc mà còn giúp  mở mang kiến thức, gặp gỡ những con người mới để thấy những điều tốt đẹp mới, nạp lại năng lượng sau những hành trình dài và mệt mỏi.

Nhiệt độ lạnh cải thiện sức khỏe

Người Mỹ và người Nhật đã áp dụng nhiệt độ thấp để điều trị trầm cảm trên phạm vi rộng. Tuy vậy, liệu pháp nhiệt độ thấp không thể là phương thuốc chính chữa trị căn bệnh rối loạn này. Khi thấy tâm trạng chán nản, tắm nước lạnh có thể là một giải pháp hữu hiệu để giải tỏa những nỗi buồn đó. Một cách làm không mới nhưng khá hiệu quả và thời gian gần đây lại phổ biến trở lại.

Luyện tập thể chất

Thể dục thể thao luôn luôn có lợi. Nó giúp con người ta trở nên năng động hơn, khỏe khoắn hơn, từ đó suy nghĩ cũng tích cực hơn. Luyện tập thể thao thường xuyên kích thích cơ thể gia tăng sản xuất endorfin – hormone gây ra cảm giác hạnh phúc. Không nhất thiết phải hoạt động nặng, đó có thể chỉ là 15-30 phút đi bộ mỗi ngày để hít thở không khí trong lành, nhìn ngắm ánh mặt trời, nghe những âm thanh vui nhộn của cuộc sống để bắt đầu một ngày mới tràn đầy năng lượng, thế thôi!

Trầm cảm có thể được ngăn ngừa và điều trị. Hiểu biết và phòng ngừa trầm cảm sẽ giúp giảm sự kỳ thị liên quan đến tình trạng này và tạo cơ hội để nhiều người mắc bệnh tìm kiếm sự giúp đỡ.(4)

About dieutri

Check Also

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là gì và có nguy hiểm không?

Viêm cầu thận là hậu quả của rất nhiều căn bệnh nhưng nó là bệnh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *